Theo dõi bệnh nhân thở máy

2012-06-19 10:45 PM

Theo dõi bệnh nhân là quan trọng nhất vì tất cả mọi cố gắng của bác sỹ kể cả cho bệnh nhân thở máy cũng chỉ nhằm tới mục tiêu là ổn định và dần dần cải thiện tình trạng bệnh nhân.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Theo dõi bệnh nhân thở máy là một công việc thường ngày của các bác sỹ và nhân viên y tá làm viêc tại các khoa Điều trị Tích cực. Theo dõi bệnh nhân thở máy thực tế là theo dõi hoạt động của máy thở và đáp ứng của bệnh nhân với thở máy. Giữa bệnh nhân và máy thở trong thở máy bao gồm 3 phần: bệnh nhân, hệ thống dây máy thở nối máy thở với bệnh nhân (bao gồm cả nội khí quản hoặc mở khí quản), và máy thở. Do vậy khi theo dõi bệnh nhân thở máy ta phải tiến hành theo dõi cả 3 phần này.

Theo dõi bệnh nhân

Theo dõi bệnh nhân là quan trọng nhất vì tất cả mọi cố gắng của bác sỹ kể cả cho bệnh nhân thở máy cũng chỉ nhằm tới mục tiêu là ổn định và dần dần cải thiện tình trạng bệnh nhân. Trong các thông số về bệnh nhân các thông số cơ bản về dấu hiệu sống (vital signs) được theo dõi liên tục còn các thông số khác được theo dõi định kỳ.

Dấu hiệu sống

Dấu hiệu sống bao gồm: mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2, nhiệt độ và mầu sắc da. Các dấu hiệu sống ngày này có thể được theo dõi liên tục bằng các máy theo dõi tại giường hoặc trung tâm. Các thay đổi trong giá trị của dấu hiệu sống cho chúng ta thông tin sơ bộ về tình trạng ôxy hoá máu (nhịp thở, mầu sắc da và SpO2), tình trạng hệ tuần hoàn (nhịp tim, huyết áp), và tình trạng nhiễm trùng (nhiệt độ). Khi các giá trị của dấu hiệu sống thay đổi tới mức nguy hiểm, máy sẽ báo động tức thì, tuy nhiên chúng ta vẫn phải theo dõi theo giờ (30 phút, 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ....) để theo dõi xu hướng thay đổi của các giá trị này và có được các quyết định sớm, kịp thời.

Khám phổi bệnh nhân đang thông khí nhân tạo

Đối với các bệnh nhân thở máy, việc khám phổi là bắt buộc và phải làm ít nhất ngày 2 lần. Khi khám phổi (bằng nhìn, sờ, gõ, nghe) bệnh nhân đang thông khí nhân tạo chúng ta có thể phát hiện thấy biến chứng của TKNT (tràn khí màng phổi: rì rào phế nang giảm hoặc mất, gõ vang, mất RRPN ở bệnh nhân có suy hô hấp đang thở máy và áp lực đường thở cao; tràn khí dưới da: khi sờ thấy lép bép dưới da; ứ đọng đờm dãi khi nghe thấy ran ứ đọng...), hoặc tình trạng tiến triển của bệnh (ran nổ, ran ẩm, ran rít và ngáy, giảm hoặc mất RRPN...)

Ngoài khám phổi bệnh nhân, chúng ta còn phải đánh giá hoạt động của cơ hô hấp. Việc bệnh nhân sử dụng cơ hô hấp hoặc có nhịp thở nghịch thường đồng nghĩa với việc có tăng công hô hấp. Đối với bệnh nhân đang thở máy, thì ngoài các nguyên nhân tắc đường thở (do đờm, nước, dị vật...) thì dấu hiệu thở nghịch thường hoặc thở có dùng các cơ hô hấp phụ thường gặp trong các bệnh nhân thở A/C mà mức trigger hoặc dòng khí thở vào không đủ, còn đối với các bệnh nhân thở  SIMV, hoặc CPAP không được hỗ trợ đầy đủ

Khám bụng

Đối với các bệnh nhân đang thở máy, bụng chướng rất thường gặp và luôn làm cản trở thông khí nhân tạo cơ học. Do đó nếu phát hiện sớm chúng ta có thể dùng các biện pháp như đặt sonde dạ dày, hậu môn hoăc dùng các thuôc tăng nhu động ruột (primperal, progstigmin, erythromycin...).

Cơ học phổi

Chúng ta có thể theo dõi diễn biến cơ học phổi của bệnh nhân bằng cách đo các thông số áp lực,  thể tích trên máy thở. Chúng ta có thể đo được áp lực đỉnh đường thở (PIP), áp lực cao nguyên (Pplat), áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP), áp lực trung bình đường thở (MAP), áp lực thấp nhất (Pmin). Về thể tích chúng ta có thể đo được các thông số như Vt thở ra (Vte), Vt thở vào (Vti), thông khí phút (MV)...Từ các thông số trên chúng ta có thể tính được độ giãn nở của phổi (compliance)...Một số máy có thể tính được sức cản đường thở.....Việc theo dõi các thông số về cơ học phổi giúp người bác sỹ lâm sàng có thể đánh giá được tình trạng bệnh nhân và đánh giá được hiệu quả của qáu trình thở máy.

Khác:

Ngoài các công việc theo dõi như trên, chúng ta còn phải tiến hành theo dõi CVP và tình trạng cân bằng dich của bệnh nhân nếu có điều kiện. Đối với bệnh nhân thở mày, luôn có áp lực dương trong lồng ngực nên làm cho giảm tuần hoàn trờ về (hồi lưu tĩnh mạch). Do vậy thường các bệnh nhân này ngay sau khi thở máy thường được bù thêm một lượng dịch tuỳ thuộc vào tình trạng lâm sàng.

Theo dõi hệ thống dây máy thở

Máy thở được nối với bệnh nhân thông qua hệ thống dây máy thở. Hệ thống dây máy thở phải kín và thông thoáng để đảm bảo máy thở hoạt động tốt nhất trong việc hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân.

Mỗi ngày ít nhất 1 lần, các bác sỹ hồi sức hoạc các y tá khoa Điều trị Tích cực phải kiểm tra hệ thống dây thở 1 lần, nhằm phát hiện các lỗ rò khí trên đường dây máy thở. Một số máy thở có hệ thống theo dõi rò rỉ khí nên sẽ tự động báo cho bác sỹ biết thông qua các thiết bị ngoại vị như màn hình, ô hiện thị hoặc các đèn báo động...Tuy vậy, một số máy thở không có hệ thống theo dõi này nên bắt buộc các bác sỹ phải có lưu tốc kế (Wright spirometer) để kiểm tra hoạt động của máy. Một các khác, các bác sỹ có thể làm là kiểm tra áp lực đẩy vào của máy.(xin xem thêm trên lâm sàng).

Trong hệ thống dây thở còn một phần quan trọng là nội khí quản (NKQ) hoặc mở khí quản (MKQ). Đối với bộ phận này chúng ta phải theo dõi vị trí của NKQ và MKQ. Nếu NKQ vào sâu sẽ thường chui vào bên phải, hoặc tụt ra ngoài gây hở...Đối với NKQ và MKQ chúng ta còn phải theo dõi bóng chèn (cuff) để duy trì áp lực từ 18-22 mmHg cũng như sự thông thoáng của NKQ và MKQ (tắc đờm)

Theo dõi máy thở 

Máy thở là một thiết bị hỗ trợ sự sống tinh xảo. Việc vận hành máy thở luôn luôn đi kèm việc theo dõi hoạt động của máy để kịp thời phát hiện các hỏng hóc cũng như đánh giá hiệu quả của quá trình thở máy.

Theo dõi máy thở, người thầy thuốc lâm sàng phải kiểm tra các thông số đã được đặt: (1) thông số về thở máy: mode thở, Vt, tần số thở, thời gian thở vào hoặc I/E hoặc peak flow, FiO2, PEEP; (2) thông số về báo động: PIP, Pmin, low Vte, low MV, tần số cao, low PEEP; và (3) các thông số về cơ học phổi (xem trên).

Đối với người thầy thuốc lâm sàng, việc theo dõi phát hiện sự cố của máy thở chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra điện nguồn, hoạt động của pin sạc, các dây khí nén....Khi máy báo hỏng hoặc bào không hoạt động (inop) hoặc mở van an toàn (safety valve open) chúng ta phải thay máy thở khác và đưa máy này đi bảo dưỡng.

 

Bài viết cùng chuyên mục

Mục tiêu kiểm soát các chỉ số ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Trong khuyến cáo thực hành lâm sàng đối với bệnh nhân đái tháo đường có bệnh thận mạn của KDOQI cập nhật năm 2012 có nêu: Mức kiểm soát HbA1c tối ưu nên duy trì vào khoảng 7,0%

Thăm dò thông khí phổi và khí máu động mạch

Đánh giá chức năng phổi của bệnh nhân trước khi mổ phổi (Ung thư phế quản, áp xe phổi, giãn phế quản, các can thiệp tim mạch, ổ bụng).

Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc thức ăn

Đây là một tình trạng bệnh lý hay gặp, đa dạng, nếu xử trí không đúng có thể nguy hiểm cho bệnh nhân.

Thông khí nhân tạo hỗ trợ áp lực (PSV)

PSV cung cấp dòng khí thở vào sinh lý hơn cho bệnh nhân, giảm công hô hấp của bệnh nhân. Dòng khí thở vào kết thúc khi đạt mức khoảng 25% dòng đỉnh ban đầu.

Sốc do tim

Chênh lệch oxy giữa máu mao mạch và máu tĩnh mạch cao do rối loạn trong sốc tim là do tổn thương chức năng tim, không phải do rối loạn ở ngoại vi.

Chăm sóc bệnh nhân nặng

Rối loạn nặng một hoặc nhiều các chức năng sống: hô hấp, tuần hoàn, não, thận, điện giải, thăng bằng kiềm toan

Chức năng của gan

Trước khi cuộc hành trình của mình trên khắp cơ thể người, máu từ dạ dày và ruột được lọc bởi gan. Để ngăn chặn các chất gây ô nhiễm lưu thông trong máu, gan loại bỏ rất nhiều chất thải độc hại lưu hành.

Nét cơ bản về giải phẫu sinh lý ứng dụng của bộ máy hô hấp

Hen phế quản, COPD là những bệnh lý hay được thông khí nhân tạo, đặc điểm là hẹp đường thở bơm khí khó khi thở vào, khí ra chậm khi thở ra nguy cơ ứ khí trong phổi (auto PEEP).

Hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân thở máy

Theo dõi tình trạng lâm sàng và SpO2 trong khi hút: nếu Bn xuất hiện tím hoặc SpO2 tụt thấp <85-90% phải tạm dừng hút: lắp lại máy thở với FiO2 100% hoặc bóp bóng oxy 100%.

Sử dụng hiệu quả insulin điều trị đái tháo đường

Tất cả các bệnh nhân đái tháo đường có thể trở nên cần điều trị bằng insulin một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn khi tụy không tiết đủ lượng insulin cần thiết.

Xử trí cơn hen phế quản nặng

Nếu không có salbutamol hoặc bricanyl dạng khí dung, có thể dùng salbutamol hoặc bricanyl dạng xịt.

Giới thiệu tác giả Ts Bs Trần Văn Phú

TS.BS. Trần Văn Phú đã có nhiều năm làm việc tại bệnh viện của nước ngoài, trực tiếp tham gia khám chữa bệnh, xử trí lâm sàng và vận hành hệ thống chăm sóc y tế theo chuẩn quốc tế.

Diễn biến lâm sàng bệnh động mạch vành

Số lượng hoạt động đòi hỏi để sinh cơn đau thắt ngực, có thể là tương đối hằng định trong những hoàn cảnh thể lực hoặc cảm xúc có thể so sánh được

Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Văn Phú: Từ chăm sóc nội khoa đến hồi sức cấp cứu

Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Văn Phú tốt nghiệp Bác sĩ Đa khoa tại Đại học Y Hà Nội. Ông tiếp tục con đường học thuật và hoàn thành chương trình Thạc sĩ rồi Tiến sĩ Y học tại cùng cơ sở đào tạo.

Mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp

Trong hoạt động điện học, do sự bất thường của xung động, và sự dẫn truyền, trình tự hoạt động điện học của cơ tim mất sinh lý, và mất đồng bộ

Chăm sóc bệnh nhân hôn mê

Hôn mê là tình trạng mất ý thức, và mất sự thức tỉnh, không hồi phục lại hoàn toàn khi được kích thích.

Sổ rau thường

Sổ rau là giai đoạn thứ 3 của cuộc chuyển dạ, tiếp theo sau giai đoạn mở cổ tử cung và giai đoạn sổ thai. Nếu 2 giai đoạn trước diễn ra bình thường thì tiên lượng của sản phụ lúc này phụ thuộc vào diễn biến của giai đoạn này.

Tràn khí màng phổi toàn bộ

Tràn khí màng phổ toàn bộ là một bệnh lý cấp tính của khoang màng phổi đặc trưng bởi xuất iện khí trong từng khoang màng phổi ở các mức độ khác nhau

Thông khí nhân tạo trong các bệnh phổi tắc nghẽn

Cơn hen phế quản cấp và đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là các tình trạng bệnh lý hay gặp trong lâm sàng, và trong trường hợp nặng có thể phải chỉ định thông khí nhân tạo.

Khái niệm và nguyên lý làm việc của máy ghi điện não

Biên độ sóng điện não: là đại lượng được ước tính từ đỉnh dưới đến đỉnh trên của sóng, đơn vị là microvon. Để ghi được sóng nhỏ như vậy phải khuếch đại lên rất nhiều lần.

Các từ viết tắt thường dùng trong thông khí nhân tạo

AaDO2 Alveolo-Arterial O2 difference, Chênh lệch nồng độ O2 giữa phế nang và máu động mạch, ACCP American College of Chest Physicians, Hội các bác sỹ lồng ngực Mỹ

Soi phế quản ống mềm

Dùng ống soi đưa vào đường hô hấp, hệ thống khí phế quản giúp quan sát tổn thương và can thiệp điều trị.

Đặc điểm giải phẫu sinh lý động mạch vành

Hai động mạch vành được tách ra từ động mạch chủ lên bởi 2 lỗ ở khoảng 1/3 trên của các xoang Valsalva, ngay phía dưới bờ tự do của lá van tổ chim tương ứng, ở thì tâm thu.

Phương thuốc quý trị ho được lưu truyền hơn 300 năm (Xuyên bối tỳ bà cao)

Bài thuốc mà vị thần y sử dụng có tên là Xuyên bối tỳ bà cao, do có 2 vị thuốc chính yếu là Xuyên bối mẫu và tỳ bà diệp, kết hợp cùng hơn chục vị thuốc khác.

Tính chất, phân tích một số nhịp sóng điện não cơ bản

Sự tăng cường nhịp beta - sự tăng hưng phấn của vỏ não. Chiếm ưu thế nếu căng thẳng TK, hưng phấn hoặc lo âu. Giảm đi nếu chuyển động tự do các chi, kích thích xúc giác.