Sức khỏe hô hấp (Respiratory Health)

2012-11-19 02:36 PM
Có nhiều biến chứng có thể xảy ra, liên quan đến các ống đặt khí quản, bao gồm tình trạng không có khả năng nói, hoặc nuốt bình thường

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Khi chúng ta thở, khí ô-xy trong không khí được đưa vào phổi và trực tiếp tiếp xúc với máu, được máu hấp thụ và đưa tới tất cả các bộ phận của cơ thể. Cùng lúc đó, khí các-bon điôxít do máu thải ra được đưa trở lại phổi và thoát ra ngoài không khí qua hơi thở.

Các lá phổi không bị ảnh hưởng bởi bệnh tê liệt. Tuy nhiên, các cơ ngực, cơ bụng và cơ hoành có thể bị ảnh hưởng. Khi nhiều các cơ khác nhau tham gia vào quá trình hô hấp co bóp, chúng cho phép hai lá phổi nở ra tạo nên những sự thay đổi áp lực trong lồng ngực để không khí chảy vào hai lá phổi. Đây được gọi là hít vào – cơ cần phải khỏe để thực hiện được chức năng này. Khi những cơ đó thư giãn, các luồng không khí quay trở lại hai lá phổi của quý vị và quý vị thở ra.

Nếu bị mắc bệnh tê liệt ở mức độ C-3 trở lên, dây thần kinh cơ hoành không còn được kích thích nữa và do đó cơ hoành không thực hiện chức năng của mình. Điều này có nghĩa là sẽ cần phải có sự hỗ trợ bằng máy -- thường là một máy hỗ trợ hô hấp.

Những người mắc bệnh tê liệt ở ngực mức độ nhẹ hoặc cao hơn sẽ gặp khó khăn khi hít sâu và thở mạnh. Bởi vì họ không thể sử dụng các cơ bụng hoặc cơ gian sườn nên những người này cũng mất khả năng ho mạnh. Việc này gây nên chứng nghẽn phổi và nhiễm trùng đường hô hấp.

Thêm vào đó các chất tiết giống như một chất keo hồ làm cho các bên thành của các đường hô hấp của quý vị dính vào nhau và không phồng lên như bình thường. Người ta gọi là chứng xẹp phổi, hay một tình trạng xẹp một phần phổi. Nhiều người mắc bệnh tê liệt có nguy cơ mắc chứng này. Một số người phải vất vả chống chọi những lần nhiễm lạnh hay nhiễm trùng đường hô hấp và gặp phải những cảm giác như lạnh ngực liên miên. Chứng viêm phổi cũng có thể xảy ra nếu các chất tiết trở thành mồng mấm phát sinh cho nhiều loại vi khuẩn khác nhau.

Một kỹ thuật hữu ích làm giảm nguy cơ này là ho có hỗ trợ: người hỗ trợ dùng lực nhấn vào bên ngoài bụng và đẩy lên trên, thay cho hoạt động của cơ bụng để tạo ra một cơn ho mạnh. Phương pháp này nhẹ nhàng hơn nhiều so với phương pháp Heimlich maneuver và điều quan trọng là phải phối hợp các lần nhấn theo nhịp hô hấp tự nhiên.

Một kỹ thuật khác là gõ bụng (percussion): Về căn bản đây chỉ là một phương pháp gõ nhẹ lên khung xương của cơ thể để làm long đờm trong hai lá phổi.

Dẫn lưu tư thế (Postural drainage): Kỹ thuật này dùng trọng lực để dẫn lưu các chất tiết từ đáy hai lá phổi lên phần cao trong ngực của quý vị để quý vị có thể ho và khạc ra, hoặc đưa lên một độ cao đủ để quý vị nuốt vào. Khi thực hiện kỹ thuật này người bệnh nằm ngang đầu để thấp hơn chân trong khoảng 15 đến 20 phút.

Những người sử dụng máy thở với các ống đặt khí quản cần phải được hút các chất tiết ra khỏi phổi theo định kỳ; Việc này cần phải được thực hiện bất cứ nơi đâu theo định kỳ nửa giờ một lần tới mỗi ngày một lần.

Các máy thở

Có hai loại thở bằng máy căn bản. Thở bằng máy tạo áp lực âm, ví dụ như phổi nhân tạo, tạo ra một khoảng chân không bao quanh phía ngoài của ngực, làm cho ngực nở ra và hút không khí vào phổi. Thở bằng máy tạo áp lực dương là phương pháp được áp dụng từ những năm 1940 hoạt động với nguyên tắc ngược lại với thở máy áp lực âm bằng cách thổi không khí trực tiếp vào phổi.

Người ta cũng có thể sử dụng một chiếc mặt nạ nhỏ phủ lên mũi và/hoặc miệng để thực hiện thông khí nhân tạo với áp lực dương. Đối với những bệnh nhân chỉ cần trợ thở trong một khoảng thời gian, người ta sử dụng các phương pháp trợ thở không xâm lấn để tránh những biến chứng liên quan đến thủ thuật mở khí quản.

Một kỹ thuật trợ thở khác là cấy một thiết bị điện tử vào khoang ngực để kích thích dây thần kinh cơ hoành đồng thời gửi một tín hiệu thường xuyên tới cơ hoành để bắt cơ hoành phải co bóp để đưa không khí vào phổi. Các máy điều hòa nhịp dây thần kinh cơ hoành đã xuất hiện vào cuối những năm 1950 nhưng đắt và không được sử dụng rộng rãi.

Chăm sóc các đường thông khí quản

Có nhiều biến chứng có thể xảy ra liên quan đến các ống đặt khí quản, bao gồm tình trạng không có khả năng nói hoặc nuốt bình thường. Các ống đặt khí quản đặc biệt được thiết kế để dẫn hướng không khí lên trên trong quá trình thở ra và do đó cho phép nói trong các quãng đều đặn, định kỳ.

Một biến chứng khác liên quan đến đường thông khí quản là nhiễm trùng. Ống đặt là một vật lạ trong cổ và có nguy cơ đưa các sinh thể vào mũi và miệng mà cơ chế phòng vệ tự nhiên những sinh thể đó sẽ bị chặn lại. Việc vệ sinh và bao phủ vị trí thông khí quản định kỳ hàng ngày là một biện pháp phòng ngừa quan trọng.

The sources:

Craig Hospital, University of Miami School of Medicine, University of Washington School of Medicine / Faculty of Rehabilitation Medicine.

Bài viết cùng chuyên mục

Hình thành cục máu đông sau Covid-19: đáp ứng miễn dịch kéo dài

Theo nghiên cứu mới, những người sống sót sau COVID-19, đặc biệt là những người bị bệnh tim hoặc tiểu đường, có thể tăng nguy cơ đông máu hoặc đột quỵ do phản ứng miễn dịch kéo dài.

Lông dương vật: tại sao nó mọc ra và những gì có thể làm về nó

Lông mu phát triển trong giai đoạn dậy thì, và vì lý do chính đáng, có lông xung quanh bộ phận sinh dục thực sự có lợi cho sức khỏe tổng thể

Hắt hơi và ho khi mang thai có ảnh hưởng đến em bé không?

Trong thời gian mang thai, hệ thống miễn dịch của cơ thể phản ứng chậm hơn và yếu hơn, bởi vì nó không muốn nhầm lẫn em bé với một thứ gì đó có hại.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Tập thể dục khi mang thai: giúp trẻ tránh khỏi các vấn đề sức khỏe khi trưởng thành

Nghiên cứu mới cho thấy việc tập thể dục khi mang thai có thể giúp các bà mẹ giảm đáng kể nguy cơ truyền bệnh tiểu đường và các bệnh chuyển hóa khác cho con mình sau này.

Thang thuốc đông y tùy chỉnh: có thể không có lợi ích gì?

Các bài báo, mẩu tin về sức khỏe, nên được nhắc nhở việc quảng cáo vô nghĩa, không phải là giải trí, mà khiến mọi người gặp rủi ro

Sống thọ lâu hơn: một số căng thẳng trong cuộc sống có thể giúp ích

Một số căng thẳng ở tuổi trẻ, thực sự có thể dẫn đến sống cuộc sống lâu hơn, nghiên cứu mới cho thấy.

Men chuyển angiotensine 2 (ACE2): có liên quan đến tổn thương đa cơ quan trong COVID-19

Cũng như SARS và COVID-19, tổn thương nội tạng cũng thường được quan sát thấy ở MERS, đặc biệt là đường tiêu hóa và thận, trong khi tỷ lệ tổn thương tim cấp tính ít phổ biến hơn.

Thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng thấp liên quan đến nguy cơ ung thư cao hơn

Các tác giả nghiên cứu cho biết hiện nay nhiều quốc gia hơn nên thực thi ghi nhãn thực phẩm để xác định rõ ràng giá trị dinh dưỡng

Sars CoV-2: đáp ứng miễn dịch sau nhiễm trùng

Các kháng thể đặc hiệu với SARS-CoV-2 và các đáp ứng qua trung gian tế bào được tạo ra sau khi nhiễm trùng. Bằng chứng cho thấy một số phản ứng này có tính chất bảo vệ và có thể được phát hiện trong ít nhất một năm sau khi nhiễm bệnh.

Hãy bắt đầu một chương trình tập thể dục

Nếu có vấn đề về tim hoặc nếu bị đau ngực trong khi tập luyện, hãy nói chuyện với bác sĩ trước khi bắt đầu một chế độ tập thể dục

Mục tiêu hạ huyết áp: tác dụng là gì?

Đối với người trung niên, giảm chỉ số huyết áp tâm thu, xuống mục tiêu 120 mm Hg, thay vì 140 mm Hg như thông thường

Phụ nữ eo hình bánh mỳ: có thể tăng nguy cơ đau tim

Vòng eo và nguy cơ đau tim: Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa việc tăng kích thước vòng eo, đặc biệt là tỷ lệ eo/hông lớn, và nguy cơ mắc bệnh đau tim, đặc biệt ở phụ nữ.

Covid-19: tổn thương phổi và tim khi mắc bệnh

Trong các mô hình động vật khác nhau về ALI, chuột loại trực tiếp ACE2 cho thấy tính thấm thành mạch được tăng cường, tăng phù phổi, tích tụ bạch cầu trung tính và chức năng phổi xấu đi rõ rệt so với chuột đối chứng kiểu hoang dã.

Biến thể Covid-19: làm cho vắc xin chỉ còn tác dụng bảo vệ và miễn dịch cộng đồng là không thể?

Biến thể Delta có khả năng truyền nhiễm nhiều hơn đáng kể có nghĩa là số lượng cao hơn sẽ phải được tiêm phòng đầy đủ để đạt được bất kỳ loại miễn dịch nào trên cộng đồng.

Tiểu đường: sự khác biệt giữa các loại 1 và 2

Bệnh tiểu đường có liên quan đến nguy cơ cao hơn về bệnh tim mạch, bệnh thận, mất thị lực, tình trạng thần kinh, và tổn thương các mạch máu và các cơ quan

Hy vọng cho COVID-19: vắc xin của Nga đầy hứa hẹn và những phát hiện khác

Các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Dịch tễ học và Vi sinh vật học Gamaleya, ở Moscow, đã phát minh ra một loại vắc xin tạo ra phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, không có tác dụng phụ nghiêm trọng ở người.

Năm loại thực phẩm chống lại cholesterol cao

Khi cân nhắc việc ăn nhiều thực phẩm có thể giúp giảm cholesterol, hãy nhớ rằng tránh các loại thực phẩm nhất định cũng có thể cải thiện kết quả

Kháng sinh phổ biến cho trẻ em: không hiệu quả trong một nửa trường hợp

Các nhà nghiên cứu, cũng phát hiện vi khuẩn do từng trẻ mang theo, có khả năng kháng kháng sinh tới sáu tháng, sau khi trẻ uống kháng sinh

Cholesterol “tốt” gắn liền với nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cao hơn

Đáng ngạc nhiên là chúng tôi nhận thấy rằng những người có cholesterol HDL thấp và cao có nguy cơ nhập viện cao với một bệnh truyền nhiễm

Covid-19 và bệnh tiểu đường: diễn biến bệnh nghiêm trọng hơn

Một nghiên cứu thuần tập dựa trên dân số đã báo cáo tỷ lệ tử vong liên quan đến COVID-19 ở bệnh nhân đái tháo đường (cả týp 1 và 2) tăng mạnh so với những năm trước khi bắt đầu đại dịch.

Bà bầu: nên tránh đồ uống ngọt nhân tạo

Mối tương quan khi kiểm soát cân nặng của người mẹ và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến việc tăng cân, như lượng calo tổng thể hoặc chất lượng chế độ ăn uống

Nghiện là gì: khả năng nghiện và phục hồi

Đối với nghiện phát triển, thuốc hoặc hoạt động phải thay đổi trải nghiệm chủ quan của một người theo một hướng mong muốn, cảm thấy tốt hoặc cảm thấy tốt hơn

Vắc xin Covid-19 AstraZeneca: tính sinh miễn dịch hiệu quả và an toàn

Vắc xin này dựa trên vectơ adenovirus tinh tinh không có khả năng sao chép biểu hiện protein đột biến. Nó được tiêm bắp và được đánh giá là hai liều cách nhau 4 đến 12 tuần.

Vắc xin Covid-19 AstraZeneca: Canada ngừng sử dụng cho những người dưới 55 tuổi

Ủy ban Cố vấn Quốc gia về Tiêm chủng (NACI) của Canada đã khuyến cáo rằng không sử dụng vắc-xin AstraZeneca Covid-19 cho những người dưới 55 tuổi.