- Trang chủ
- Sách y học
- Triệu chứng học nội khoa
- Khó thở khi đứng: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Khó thở khi đứng: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Thông thường, nối tắt mạch máu từ hệ thống tĩnh mạch sang hệ thống động mạch gây nên khó thở ở tư thế đứng. Có nhiều cơ chế sinh lý cho điều này.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Điều này nói về khó thở khi ngồi hoặc đứng, giảm nằm nằm ngửa. Nó trái ngược với chứng khó thở khi nằm và không phải là dấu hiệu thường gặp.
Nguyên nhân
Tim mạch (nối tắt trong tim)
Thông liên nhĩ (ASD).
Còn lỗ bầu dục (PFO).
Phẫu thuật cắt bỏ phổi
Thông thường kết hợp với tăng áp động mạch phổi, hoặc tăng áp lực tâm nhĩ phải (RA) (ví dụ viêm màng ngoài tim co thắt, chèn ép tim).
Phổi (shunts trong phổi từ phải sang trái)
Hội chứng gan phổi.
Bệnh phổi.
COPD.
Thuyên tắc động mạch phổi.
Khối u đường hô hấp trên.
Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển.
Nguyên nhân khác
Bệnh thần kinh tự chủ.
Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS).

Hình. Cơ chế chứng khó thở khi đứng trong hội chứng gan phổi
Cơ chế
Thông thường, nối tắt mạch máu từ hệ thống tĩnh mạch sang hệ thống động mạch gây nên khó thở ở tư thế đứng. Có nhiều cơ chế sinh lý cho điều này.
Còn lỗ bầu dục (PFO)
Khó thở khi đứng có thể xảy ra trên bệnh nhân bị PFO đơn độc, hoặc trên bệnh nhân có PFO và kèm theo tăng áp lực nhĩ phải thứ phát.
Ở những bệnh nhân có chứng khó thở khi đứng và PFO, dòng máu trong tĩnh mạch chủ dưới chuyển hướng về phía vách liên nhĩ và nhĩ trái. Tăng áp động mạch phổi có thể góp phần cho điều này bằng cách tăng áp lực thất trái và nhĩ trái, làm tăng khả năng nối tắt mạch máu qua lỗ bầu dục.
Phẫu thuật cắt bỏ phổi
Ở những bệnh nhân sau phẫu thuật cắt bỏ phổi, thất phải thường ít (phụ thuộc - comliant) hơn tâm thất trái, nâng áp lực thất phải và nhĩ phải và tạo ra một shunt (nối tắt) phải-sang-trái và chứng khó thở khi đứng.
Phổi
Giống như nguyên nhân tim mạch, nguyên nhân của phổi gây ra chứng khó thở khi đứng liên quan đến việc máu nghèo oxy bị chuyển hướng sang hệ thống động mạch.
Có đề xuất cho rằng bệnh phổi có thể gây ra những thay đổi trong cơ cấu phổi, tăng áp lực ở các phế nang, giảm áp lực động mạch phổi dẫn đến chèn ép động mạch phổi và tăng khoảng chết hô hấp – tất cả đều gây ra V/Q bất tương xứng nhiều hơn và/hoặc các nối tắt trong phổi dẫn đến khó thở khi đứng.
Gan
Khó thở khi đứng trong bệnh gan là do nối tắt mạch máu trong phổi của máu nghèo oxy. Tại sao và làm thế nào điều này xảy ra là do nhiều nguyên nhân.
Hội chứng gan phổi đã được chứng minh là gây ra một số thay đổi trong hệ thống phổi mà kết quả là biến đổi quá trình oxy bình thường:
Khuếch tán nối tắt trong phổi được hình thành chủ yếu bởi tiền mao mạch và giãn giường mao mạch máu (một số thông nối nối động tĩnh mạch cũng được tìm thấy).
Giảm co mạch do thiếu oxy dẫn đến máu nghèo ôxy đi qua khu vực trao đổi khí kém thay vì được phân phối lại cho các khu vực có thông khí tốt hơn.
V/Q bất tương hợp tiến triển hoặc xấu đi.
Tràn dịch màng phổi và rối loạn chức năng cơ hoành.
Ngoài những yếu tố này, người ta cho rằng, tư thế ngồi cho phép trọng lực tái phân phối máu đến đáy phổi, nơi có các giường tiền mao mạch giãn, điều này cũng có nghĩa là máu ít được oxy hoá, gây thiếu oxy máu và khó thở.
Cuối cùng, người ta chỉ ra rằng bệnh nhân mắc hội chứng gan phổi có tăng động tuần hoàn và kháng trở mạch máu phổi thấp - có nghĩa là sẽ có ít thời gian cho máu nghèo ôxy trở thành máu giàu oxy trong phổi.
Ý nghĩa
Khó thở khi đứng là một dấu hiệu hiếm gặp nhưng có giá trị; nếu có triệu chứng này gần như chắc chắn chỉ ra bệnh lý tiềm ẩn dẫn đến một shunt (nối tắt) máu từ hệ thống tĩnh mạch đến hệ thống động mạch.
Bài viết cùng chuyên mục
Biến đổi hình dạng sóng tĩnh mạch cảnh: sóng a nhô cao
Sóng a nhô cao xảy ra trước kì tâm thu, không cùng lớn động mạch cảnh đập và trước tiếng T1. Sóng a đại bác xảy ra trong kì tâm thu, ngay khi động mạch cảnh đập và sau tiếng T1.
Ngực ức gà: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Sự co lặp đi lặp lại của cơ hoành (vd: nhiễm trùng gây ho kéo dài) trong khi thành ngực vẫn dễ uốn đẩy xương mềm dẻo ra ngoài. Theo thời gian, điều này sẽ làm lồng ngực biến dạng không hồi phục.
Khám phản xạ
Mỗi phản xạ tương ứng với ba khoanh tuỷ. Theo qui ước, ta chỉ dùng khoanh giữa để chỉ. Ví dụ phản xạ bánh chè tương ứng ở tuỷ lưng L3. Hình thức cơ bản của hoạt động thần kinh là hoạt động phản xạ.
Hội chứng tiền đình tiểu não
Tiểu não gồm phần giữa hay thùy nhộng và 2 bán cầu tiểu não. Thùy nhộng có chức năng giữ thăng bằng, bán cầu tiểu não có chức năng phối hợp vận động và duy trì phản xạ trương lực cơ.
Áp lực tĩnh mạch cảnh (JVP): Dấu hiệu Kussmaul
Ít hơn 40% trường hợp viêm màng ngoài tim co thắt có dấu hiệu Kussmaul; tuy nhiên, độ đặc hiệu cho bệnh lý nền khá cao. Nếu dấu hiệu này xuất hiện, cần phải thực hiện tầm soát thêm.
Khoảng ngừng quay quay: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Đoạn hẹp của động mạch chủ trước nơi xuất phát của động mạch dưới đòn trái xuất phát, hạn chế dòng máu chảy và gây giảm huyết áp vùng xa sau hẹp. Sóng mạch đến chậm hơn bên tay trái và biên độ mạch trái phải cũng khác nhau.
Hội chứng hạ Glucose (đường) máu
Người ta nhận thấy nói chung glucoza máu từ 60mg%, trở xuống chắc chắn có triệu chứng, glucoza máu càng hạ, triệu chứng càng nặng. Nhưng không nhất thiết có sự hạ glucoza máu và sự nặng nhẹ của các biểu hiện lâm sàng.
Co kéo cơ hô hấp phụ: tại sao và cơ chế hình thành
Việc dùng cơ hô hấp phụ giúp tạo ra nhiều áp lực âm trong lồng ngực ở thì thở vào (kéo thêm nhiều khí vào phổi và có thể gây ra co kéo khí quản) và áp lực dương cao hơn ở thì thở ra (đẩy khí ra).
Tăng carotene máu/Lắng đọng carotene ở da: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Lắng đọng carotene da được xem là vô hại và phát hiện nguyên nhân tiềm ẩn chỉ có giá trị phòng ngừa biến chứng của bệnh đó. Ví dụ, tích tụ carotene da có thể là chỉ điểm đầu tiên của việc rối loạn ăn uống.
Bánh xe răng cưa: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Dấu bánh xe răng cưa là dấu hiệu của loạn chức năng ngoại tháp. Thường gặp nhất có liên quan đến bệnh Parkinson. Cơ chế cuả dấu bánh xe răng cưa ít được biết đến.
Khám bệnh và chẩn đoán nội khoa
Công tác khám bệnh có làm được tốt mới phát hiện được đúng và đầy đủ các triệu chứng để có thể làm được một chẩn đoán thật chính xác và đầy đủ.
Hội chứng suy tim
Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cơ tim giảm khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể. Bình thường tim có một khả năng dự trữ, có thể đáp ứng nhu cầu của cơ thể trong từng hoàn cảnh khác nhau.
Viêm góc miệng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến cản trở sự bảo vệ, sửa chữa và tái tạo của các tế bào biểu mô ở vị trí ranh giới giữa da và niêm mạc miệng, dẫn đến viêm teo niêm mạc miệng.
Hội chứng rối loạn tiêu hoá
Hội chứng rối loạn tiêu hoá rất hay gặp ở các phòng khám đa khoa. Nguyên nhân: do nhiều nguyên nhân: nhiễm trùng, nhiễm độc, thay đổi thời tiết hoặc do ăn những thức ăn lạ.
Chẩn đoán thận to
Đặc tính quan trọng của thận là rất di động. Dấu hiệu chạm thắt lưng và bập bềnh thận là biểu hiện của tính di động đó, nên nó là những dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán thận to.
Run tay parkinson: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Cơ chế run parkinson chưa rõ. Các kích thích có tính đồng bộ và nhịp điệu của các neuron trong nhân dưới đồi và nhân cầu nhạt trong có sự liên hệ với chứng run của bệnh nhân Parkinson và của những con khỉ được dùng MPTP.
Sự khác biệt độ dài hai chân: tại sao và cơ chế hình thành
Về mặt giải phẫu, sự mất cân xứng về chiều dài hai chân liên quan đến chiều dài thực sự của xương và các cấu trúc giải phẫu tạo lên hông và chi dưới.
Barre chi trên: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Khi loại bỏ tầm nhìn, các neuron vận động yếu sẽ làm chi rơi xuống. Cánh tay rơi sấp có độ nhạy cao hơn so với sử dụng test cơ lực đơn độc để xác định yếu các neuron vận động.
Thở khò khè: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Khi lòng ống dẫn khí bị thu hẹp nhỏ hơn, vận tốc dòng khí tăng, dẫn đến sự rung động của thành đường dẫn khí và tạo ra âm thanh đặc trưng.
Liệt chu kỳ trong bệnh nội tiết: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Liệt chu kỳ là dấu hiệu hiếm, gây bệnh với tỉ lệ từ 2% đến 20%, và 0,1%, 0,2% theo thứ tự dân số ở châu Á và châu Mĩ. Không có sự tương quan giữa mức độ nặng của cường giáp và biểu hiện lâm sàng của tình trạng liệt.
Chụp động mạch vành
Đến thập kỷ 50 cuả thế kỷ XX, Seldinger đã chụp được động mạch vành bằng ống thông, Năm 1959 Bellman chế ra catheter chuyên dùng cho chụp động mạch vành.
Run khi vận động chủ ý: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Run khi cử động hữu ý là một triệu chứng của tổn thương bán cầu tiểu não cùng bên. Trong hai nghiên cứu trên bệnh nhân có tổn thương bán cầu tiểu não một bên, run khi cử động hữu ý chiếm 29%.
Lồi mắt do bệnh Graves: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Trong bệnh Graves, kháng thể kháng thụ thể tuyến giáp được sản xuất như là 1 phần trong quá trình của bệnh. Những kháng thể hoạt động trên tuyến giáp cũng ảnh hưởng đến nguyên bào sợi của hốc mắt.
Dấu hiệu Babinski: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Dấu hiệu Babinski là dấu hiệu của neuron vận động trên. Nó có thể không xuất hiện trong giai đoạn tối cấp sau loạn chức năng neuron vận động trên.
Mạch động mạch so le: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có rất ít nghiên cứu hướng dẫn đầy đủ về giá trị của dấu hiệu mạch so le. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, nếu hiện diện, mạch so le có liên quan đến rối loạn chức năng thất trái.
