Khó thở khi đứng: nguyên nhân và cơ chế hình thành

2020-06-03 03:04 PM

Thông thường, nối tắt mạch máu từ hệ thống tĩnh mạch sang hệ thống động mạch gây nên khó thở ở tư thế đứng. Có nhiều cơ chế sinh lý cho điều này.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Điều này nói về khó thở khi ngồi hoặc đứng, giảm nằm nằm ngửa. Nó trái ngược với chứng khó thở khi nằm và không phải là dấu hiệu thường gặp.

Nguyên nhân

Tim mạch (nối tắt trong tim)

Thông liên nhĩ (ASD).

Còn lỗ bầu dục (PFO).

Phẫu thuật cắt bỏ phổi

Thông thường kết hợp với tăng áp động mạch phổi, hoặc tăng áp lực tâm nhĩ phải (RA) (ví dụ viêm màng ngoài tim co thắt, chèn ép tim).

Phổi (shunts trong phổi từ phải sang trái)

Hội chứng gan phổi.

Bệnh phổi.

COPD.

Thuyên tắc động mạch phổi.

Khối u đường hô hấp trên.

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển.

Nguyên nhân khác

Bệnh thần kinh tự chủ.

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS).

Cơ chế chứng khó thở khi đứng trong hội chứng gan phổi

Hình. Cơ chế chứng khó thở khi đứng trong hội chứng gan phổi

Cơ chế

Thông thường, nối tắt mạch máu từ hệ thống tĩnh mạch sang hệ thống động mạch gây nên khó thở ở tư thế đứng. Có nhiều cơ chế sinh lý cho điều này.

Còn lỗ bầu dục (PFO)

Khó thở khi đứng có thể xảy ra trên bệnh nhân bị PFO đơn độc, hoặc trên bệnh nhân có PFO và kèm theo tăng áp lực nhĩ phải thứ phát.

Ở những bệnh nhân có chứng khó thở khi đứng và PFO, dòng máu trong tĩnh mạch chủ dưới chuyển hướng về phía vách liên nhĩ và nhĩ trái. Tăng áp động mạch phổi có thể góp phần cho điều này bằng cách tăng áp lực thất trái và nhĩ trái, làm tăng khả năng nối tắt mạch máu qua lỗ bầu dục.

Phẫu thuật cắt bỏ phổi

Ở những bệnh nhân sau phẫu thuật cắt bỏ phổi, thất phải thường ít (phụ thuộc - comliant) hơn tâm thất trái, nâng áp lực thất phải và nhĩ phải và tạo ra một shunt (nối tắt) phải-sang-trái và chứng khó thở khi đứng.

Phổi

Giống như nguyên nhân tim mạch, nguyên nhân của phổi gây ra chứng khó thở khi đứng liên quan đến việc máu nghèo oxy bị chuyển hướng sang hệ thống động mạch.

Có đề xuất cho rằng bệnh phổi có thể gây ra những thay đổi trong cơ cấu phổi, tăng áp lực ở các phế nang, giảm áp lực động mạch phổi dẫn đến chèn ép động mạch phổi và tăng khoảng chết hô hấp – tất cả đều gây ra V/Q bất tương xứng nhiều hơn và/hoặc các nối tắt trong phổi dẫn đến khó thở khi đứng.

Gan

Khó thở khi đứng trong bệnh gan là do nối tắt mạch máu trong phổi của máu nghèo oxy. Tại sao và làm thế nào điều này xảy ra là do nhiều nguyên nhân.

Hội chứng gan phổi đã được chứng minh là gây ra một số thay đổi trong hệ thống phổi mà kết quả là biến đổi quá trình oxy bình thường:

Khuếch tán nối tắt trong phổi được hình thành chủ yếu bởi tiền mao mạch và giãn giường mao mạch máu (một số thông nối nối động tĩnh mạch cũng được tìm thấy).

Giảm co mạch do thiếu oxy dẫn đến máu nghèo ôxy đi qua khu vực trao đổi khí kém thay vì được phân phối lại cho các khu vực có thông khí tốt hơn.

V/Q bất tương hợp tiến triển hoặc xấu đi.

Tràn dịch màng phổi và rối loạn chức năng cơ hoành.

Ngoài những yếu tố này, người ta cho rằng, tư thế ngồi cho phép trọng lực tái phân phối máu đến đáy phổi, nơi có các giường tiền mao mạch giãn, điều này cũng có nghĩa là máu ít được oxy hoá, gây thiếu oxy máu và khó thở.

Cuối cùng, người ta chỉ ra rằng bệnh nhân mắc hội chứng gan phổi có tăng động tuần hoàn và kháng trở mạch máu phổi thấp - có nghĩa là sẽ có ít thời gian cho máu nghèo ôxy trở thành máu giàu oxy trong phổi.

Ý nghĩa

Khó thở khi đứng là một dấu hiệu hiếm gặp nhưng có giá trị; nếu có triệu chứng này gần như chắc chắn chỉ ra bệnh lý tiềm ẩn dẫn đến một shunt (nối tắt) máu từ hệ thống tĩnh mạch đến hệ thống động mạch.

Bài viết cùng chuyên mục

Áp lực tĩnh mạch cảnh (JVP): Dấu hiệu Kussmaul

Ít hơn 40% trường hợp viêm màng ngoài tim co thắt có dấu hiệu Kussmaul; tuy nhiên, độ đặc hiệu cho bệnh lý nền khá cao. Nếu dấu hiệu này xuất hiện, cần phải thực hiện tầm soát thêm.

Khàn tiếng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Khàn tiếng thường nhất là triệu chứng của viêm dây thanh do virus, nhưng đây cũng có thể là một triệu chứng quan trọng của bệnh lý thần kinh. Khàn tiếng nên được giải thích trong bệnh cảnh lâm sàng toàn diện.

Giảm phản xạ và mất phản xạ: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong một vài nghiên cứu trên các bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh thần kinh trước đó, 6-50% bệnh nhân mất phản xạ gân gót hai bên mặc dù đã dùng các nghiệm pháp tăng cường.

Triệu chứng học thực quản

Thực quản là một ống dẫn thức ăn nối hầu với dạ dày, Nơi đổ vào dạ dày gọi là tâm vị, Thực quản dài khoảng 25 cm, chia làm 3 phần. Đoạn nối hầu và thực quản tạo bởi cơ vân, cơ nhẫn hầu, cơ này tạo cơ thắt trên (sphincter) của thực quản.

Triệu chứng cơ năng thận tiết niệu

Thận tham gia trong quá trình chuyển hoá nước để giữ thăng bằng khối lượng nước trong cơ thể ở một tỷ lệ nhất định(76% trọng lượng cơ thể).

Chẩn đoán lách to

Lách nằm lẩn trong lồng ngực, không sờ thấy đuợc, trừ các trẻ nhỏ, thành bụng nhẽo, Chỉ gõ được vùng đục của lách ở đường nách sau, cao độ 2, 3cm.

Rối loạn chuyển hóa Magie

Các rối loạn nhịp tim thường xuất hiện ở những bệnh nhân vừa giảm magiê vừa giảm kali máu. Những biểu hiện trên điện tim giống với giảm kali máu

U hạt vòng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trước đây, u hạt vòng được xem như có mối liên hệ với đái tháo đường typ 1, và mức độ liên quan giữa chúng đã được xem xét nhiều lần, tuy nhiên vẫn không xác định được một mối liên hệ rõ ràng.

Hội chứng rối loạn tiêu hoá

Hội chứng rối loạn tiêu hoá rất hay gặp ở các phòng khám đa khoa. Nguyên nhân: do nhiều nguyên nhân: nhiễm trùng, nhiễm độc, thay đổi thời tiết hoặc do ăn những thức ăn lạ.

Bạch sản trong bệnh lý huyết học: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ của bạch sản bao gồm hút thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá, nhiễm nấm candida, bệnh lí ung thư và tiền ung thư trước đó, virus HPV.

Run khi vận động chủ ý: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Run khi cử động hữu ý là một triệu chứng của tổn thương bán cầu tiểu não cùng bên. Trong hai nghiên cứu trên bệnh nhân có tổn thương bán cầu tiểu não một bên, run khi cử động hữu ý chiếm 29%.

Hội chứng Brown-Séquard: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Hội chứng Brown-Séquard là hội chứng lâm sàng hiếm có liên quan đến cắt ngang tủy sống. Yếu cùng bên dưới mức tổn thương. Mất cảm giác sờ nông, rung, sự nhận cảm cảm giác cùng bên dưới mức tổn thương.

Chảy máu đường tiêu hóa

Chảy máu đường tiêu hoá là một tình trạng rất hay gặp trong các bệnh về tiêu hoá, do rất nhiều nguyên nhân gây nên. Chảy máu ở đây rất nhiều và nhanh có thể  đe doạ đến tính mạng người bệnh, đòi hỏi phải theo dõi kỹ càng xử trí kịp thời.

Tràn khí dưới da: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Da từ cổ, trung thất và khoang sau phúc mạc được nối với nhau bằng mặt phẳng màng cơ (fascial planes) và chính mặt phẳng này cho phép không khí theo đó mà di chuyển từ khoang này đến các khoang khác.

Cọ màng ngoài tim: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Viêm nhiễm làm cho lá thành và lá tạng của màng ngoài tim (bình thường cách nhau bởi một lớp dịch mỏng) cọ lên nhau.

Âm thổi khi nghe tim: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Tiếng thổi ở tim là một âm thanh thổi, rít hoặc rít được nghe thấy trong một nhịp tim. Âm thanh được tạo ra bởi dòng máu hỗn loạn qua các van tim hoặc gần tim.

Hô hấp nghịch thường: tại sao và cơ chế hình thành

Hô hấp nghịch thường được cho rằng là do cử động gắng sức mạnh của cơ hô hấp phụ thành ngực trong thì thở ra gắng sức, làm đẩy cơ hoành xuống dưới và đẩy bụng ra ngoài.

Nghiệm pháp kiểm tra cơ trên gai: tại sao và cơ chế hình thành

Cơ trên gai giúp dạng vai cùng với cơ delta. Teo cơ làm cơ yếu và không duy trì được mở khớp vai một góc 90°. Tương tự, rách hoặc viêm gân cơ trên gai cúng gây đau khi chống lại lực đối kháng (nghiệm pháp dương tính).

Áp lực tĩnh mạch cảnh (JVP): hình dạng sóng bình thường

Ở người khoẻ mạnh, có thể dự đoán hình dạng sóng của tĩnh mạch cảnh khi đặt catheter tim. Mỗi phần phản ánh cho sự thay đổi ở tâm nhĩ phải và áp lực tĩnh mạch cảnh.

Gõ vang khi thăm khám: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Trong gõ vang/rất vang, phổi ứ khí quá mức cho phép dẫn truyền âm tần số thấp (được tạo ra khi gõ) tốt hơn.

Triệu chứng thực thể bệnh cơ xương khớp

Khám có thể bắt đầu bằng các dấu hiệu sinh tồn: Nhiệt độ, nhịp thở, mạch, huyết áp, cân nặng. Sự sút cân tự nhiên không rõ nguyên nhân thường là dấu hiệu của viêm mãn tính, hoặc nhiễm khuẩn mãn tính hoặc của bệnh ác tính.

Tăng sắc tố và sạm da: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Tăng sắc tố là triệu chứng có giá trị, gặp ở 92% bệnh nhân có suy thượng thận nguyên phát và nó là một trong những biểu hiện sớm nhất của bệnh lý này. Nó cũng có giá trị trong việc phân biệt suy thượng thân nguyên phát hay thứ phát.

Vàng da trước gan: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong vàng da trước gan, sự phá hủy hồng cầu làm tăng giải phóng hem, sau đó được vận chuyển tới gan để chuyển hóa. Số lượng hem quá tăng, làm cho gan quá tải và không có khả năng liên hợp và bài tiết tất cả bilirubin.

Cách khám một người bệnh nội tiết

Tuyến nội tiết là những tuyến tiết ra Hocmon, các chất này đổ vào các mạch máu đi của tuyến, Chính ngay cả ở tế bào của tuyến, các tĩnh mạch nằm trong tuyến.

Triệu chứng học đại tràng

Trực tràng nằm trong tiểu khung, đó là một ống phình ra nên còn gọi là bóng trực tràng, Đoạn cuối trực tràng là một ống hẹp, ngắn khoảng 3, 4cm, nhẵn gọi là ống trực tràng.