- Trang chủ
- Sách y học
- Triệu chứng học nội khoa
- Đau bụng cấp tính và mãn tính
Đau bụng cấp tính và mãn tính
Đau bụng là một trong những dấu hiệu chức năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hoá, nhiều khi chỉ dựa vào triệu chứng đau, người thầy thuốc có thể sơ bộ.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đau bụng là một trong những dấu hiệu chức năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hoá, nhiều khi chỉ dựa vào triệu chứng đau, người thầy thuốc có thể sơ bộ chẩn đoán hay hướng về một bệnh nào đó. Tuy nhiên đau là một cảm giác chủ quan, phụ thuộc nhiều vào cá tính của từng người à không phản ánh hoàn toàn tình trạng của bệnh, không thể chỉ dựa vào tình trạng đau nhiều hay ít để đánh giá mức độ bệnh nặng hay nhẹ. Do đó triệu chứng đau chỉ có tính chất gợi ý đầu tiên khiến cho thầy thuốc dựa vào đó tiến hành hỏi bệnh và thăm khám chẩn đoán bệnh.
Thăm khám một người bệnh đau bụng
Đứng trước một người bệnh đau bụng ta phải tiến hành thăm khám lần lượt.
Hỏi bệnh
Hỏi về đặc tính của đau:
Vị trí đầu tiên của đau. Nhiều khi có giá trị quan trọng trong chẩn đoán. Thường vị trí của đau tương ứng với các cơ quan bên dưới, thí dụ:
Vùng thượng vị: Dạ dày, tá tràng, đại trang ngang.
Vùng hạ sườn phải: Gan, túi mật…
Vùng hố chậu phải: Ruột thừa… (xem thâm phần phân khu bụng).
Hoàn cảnh xuất hiện đau: Đau do thủng dạ dày thường đột ngột - đau quặn gan, quặn thận xuất hiện sau khi vận động nhiều…
Hướng lan: Có thể lan ra sau lưng, lên ngực, lên vai, xuống dưới. Đau dạ dày thường lan ra sau lưng và lên ngực, đau quặn gan lan lên ngực và lên vai, đau do niệu quản lan xuống bộ phận sinh dục và đùi…
Tính chất của đau: Có thể chia thành 5 loại tính chất đau khác nhau:
Cảm giác đầy bụng: Là cảm giác đầy trướng, nặng bụng, ậm ạch, khó tiêu…
Đau thực sự: Tùy theo từng bệnh, tuỳ theo cảm giác của từng người bệnh, có thể đau như dao đâm (thủng dạ dày), đau xoắn vặn, đau nhoi nhói, đau âm ỉ…
Đau quặn: Là cảm giác đặc biệt khi đau từng cơn, ở một vị trí nhất định, trội lên rồi dịu dần cho đến cơn sau. Ở ruột, cơn đau dịu đi sau khi trung tiện hoặc đại tiện và đau là do một đoạn ruột bị trướng hơi đột ngột; hội chứng Koenig, bán tắc ruột. Ở ống tiết như ống mật, túi mật, niệu quản, cơn đau quặn là do sự co bóp quá mạnh gây nên tăng áp lực đột ngột và tạo thành cơn đau quặn gan và quặn thận.
Cảm giác rát bỏng: Thường là cảm giác nóng bỏng, cồn cào ở dạ dày, cảm giác này gây nên do tình trạng quá cảm của niêm mạc dạ dày.
Hội chứng đau đám rối thái dương: Đau dữ dội ở thượng vị, đột ngột rối loạn tiêu hoá, ảnh hưởng đến tình trạng toàn thân.
Các yếu tố ảnh hưỡng đến đau: Vận động, thời tiết, ăn uống, thuốc men…
Hỏi về các biểu hiện kèm theo:
Các biểu hiện liên quan đến bộ phận có bệnh: Nôn mửa, rối loạn đại tiện, vàng da, vàng mắt, đái máu, đái đục, kinh nguyệt…
Các biểu hiện toàn thân: sốt, ngất, trụy tim mạch…
Hỏi về tiền sử: Nghề nghiệp, thí dụ cơn đau bụng chì do ngộ độc chì. Các bệnh mắc từ trước, giang mai, kiết lỵ…đặc biệt chú ý tới tính chất tái phát nhiều lần của những cơn đau giống nhau, đau vùng thượng vị có chu kỳ thường do loét dạ dày hành tá tràng. Đau vùng hạ sườn phải kèm theo sốt và vàng da tái phát nhiều lần, gặp trong sỏi mật…
Khám lâm sàng
Khám toàn thân (xem thêm bài khám toàn thân):
Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở…khám các bộ phận có hệ thống.
Đặc biệt chú ý tới một số tình trạng toàn thân như:
Tình trạng sốc: Gặp trong một số bệnh có tính chất cấp cứu như thủng dạ dày, viêm tuỵ cấp chảy máu, chửa ngoài dạ con bị vỡ.
Tình trạng truỵ tim mạch: Đối với nguyên nhân gây chảy máu trong.
Vàng da, vàng mắt, torng những bệnh về gan mật.
Tình trạng suy mòn trong những bệnh mạn tính (ung thư, lao…).
Tình trạng nhiểm khuẩn: viêm màng bụng, áp xe gan…
Khám bụng (xem thêm bài khám bộ máy tiêu hoá):
Kết hợp nhìn, sờ, gõ nghe, và thăm trực tràng, âm đạo.
Đặc biệt chú ý đến một số điểm đau như: Điểm ruột thừa (điểm Mac Burney điểm túi mật (làm nghiệm pháp Murphy). Điểm sườn lưng, điểm niệu quản…
Một số triệu chứng cấp cứu ở bụng như:
Thành bụng không di động theo nhịp thở, cứng như gỗ, các cơ thành bụng nổi rõ, gõ vùng trước gan trong - thủng nội tạng rỗng (dạ dày, ruột ….).
Dấu hiệu rắn bò: Hẹp môn vị, tắc ruột hay lồng ruột…
Thăm trực tràng và âm đạo:
Là động tác rất cần thiết và quan trọng có thể phát hiện một số tình trạng cấp cứu như - chửa ngoài dạ con bị vỡ có túi cùng Douglas phồng, rất đau (tiếng kêu Douglas), viêm màng bụng - các túi cùng rất đau.
Xem phân, các chất nôn và nước tiểu…
Xét nghiệm
Sau khi hỏi bệnh và thăm khám, tuỳ theo nguyên nhân ta làm một số xét nghiệm khác nhau.
Về điện quang có thể cho biết một số tình trạng cấp cứu như hình lưỡi liềm hơi trong thủng dạ dày, thủng ruột, hình mức nước và hơi trong tắc ruột…
Sau khi kết hợp cả ba mặt hỏi bệnh, thăm khám và xét nghiệm, ta có thể và phải phân biệt ba loại tình trạng đau bụng khác nhau để có thể có thái độ quyết định xử trí khác nhau.
Ba loại diễn biến của đau bụng
Đau bụng có tính chât cấp cứu ngooại khoa
Gồm những bệnh tiến triển rất nhanh chóng dẫn đến tử vong, cần phải chẩn đoán sớm và xử trí bằng phương pháp phẫu thuật kịp thời và nhanh chóng. Thì dụ: Thủng dạ dày, viêm ruột, tắc ruột thừa…
Đau bụng cấp nội khoa
Đó là những cơn đau bụng đột ngột hoặc cơn đau trội lên của một tình trạng đau bụng kéo dài, thường biểu hiện những bệnh cần xử trí kịp thời bằng phương pháp nội khoa, không dùng đến phẫu thuật. Ví dụ: giun chui ống mật, viêm ruột cấp, cơn đau của loét dạ dày hành tá tràng…
Đau bụng mạn tính
Diễn biến kéo dài hàng tuần, hàng tháng, về phương diện điều trị cũng đòi hỏi thời gian lâu dài.
Nhiệm vụ của những người thầy thuốc đứng trước một người bệnh đau bụng là pảhi phân biệt được ba tình trạng đau bụng trên để có thái độ xử trí kịp thời nhất là phải phát hiện tất cả những trường hợp đau bụng có tính chất cấp cứu ngoại khoa. Nhưng thực tế nhiều khi rất khó: thí dụ bệnh loét dạ dày diễn biến kéo dài nhưng có những đợt đau cấp và ổ loét bị thủng sẽ gây nên những tình trạng cấp cứu ngoại khoa, vì vậy người thầy thuốc phải thăm khám kỹ lưỡng, theo dõi cẩn thận để phân biệt và phát hiện kịp thời.
Sau khi phân biệt các tình trạng đau bụng khác nhau, muốn quyết định thái độ xử trí cần tìm nguyên nhân đã gây nên đau bụng, vì đau chỉ là một triệu chứng mà bất kỳ tổn thương của một nội tạng nào trong ổ bụng cũng có thể gây nên, trước khi đi vào phần nguyên nhân ta cần biết hiện tượng đau được tạo thành do những cơ chế nào?.
Cơ chế bệnh sinh
Dựa vào những thí nghiệm người ta thấy đau xuất hiện.
Một tạng rỗng ở trong ổ bụng bị căng giãn đột ngột
Căng giãn dạ dày, căng giãn ruột đột ngột.
Nhu động co bóp tăng lên quá mức gây nên một áp lực cao hơn
Tăng nhu động dạ dày, ruột; tăng co bóp túi mật (hẹp môn vị, tắc ruột, sỏi mật…).
Màng bụng bị đụng chạm kích thích
Thủng dạ dày, viêm màng bụng, chấn thương ở bụng.
Những kích thích bệnh lý đối với các nội tạng
Những kích thích này tác động lên các sợi dây thần kinh giao cảm ở nội tạng và gây nên đau: Áp xe gan, viêm tuỵ tạng..
Nguyên nhân
Dưới đây chỉ giới thiệu một số nguyên nhân chính gây nên đau bụng với những dấu hiệu chủ yếu để có một khái niệm rất chung, rất đại cương về một số bệnh thông thường vì đau bụng là một triệu chứng rất chung biểu hiện rất nhiều bệnh mà trong phạm vi bài này không có mục đích đi sâu vào từng bệnh.
Những nguyên nhân gây ra đau bụng cấp
Để thuận lợi trong việc thăm khám và chẩn đoán, ta sẽ phân chia theo vị trí của vùng đau, tuỳ theo vị trí xuất phát của đau bụng sẽ có những gợi ý chẩn đoán khác nhau.
Đau ở vùng thượng vị và phần bụng trên
Đau bụng có tính chất cấp cứu ngoại khoa:
Thủng dạ dày: Đau ở đây đột ngột có đặc điểm - Đau dữ dội vùng thượng vị như ao đâm. Tình trạng toàn thân: Sốc, mạch nhanh, hốt hoảng lo lắng, kèm theo rối loạn tiêu hoá - nôn, bí đại tiện và trung tiện. Khám thành bụng có phản ứng cứng như gỗ, không di động theo nhịp thở. Gõ thấy mất vùng đục trước gan vì co hơi. Soi xquang thấy hình liềm hơi trên gan và trên dạ dày. Thường có tiền sử đau dạ dày từ trước, nhưng cũng có khi không.
Viêm tuỵ tạng cấp chảy máu:
Đau ở vùng thượng vị lan ra sau lưng, thường xuất hiện đột ngột sau bữa ăn.
Tình trạng sốc mạnh: Mạch nhanh, huyết áp hạ…
Khám thấy bụng có phản ứng hơi căng, ân vùng thượng vị và đặc biệt là điểm sường lưng, rất đau.
Lượng amylaza trong máu tăng cao.
Đau bụng cấp nội khoa:
Cơn đau dạ dày cấp do loét hoặc viêm: (kể cả hành tá tràng).
Đau nhiều ở vùng thượng vị, có thể kèm theo nôn ra nước chua và thức ăn.
Không có hiện tượng thành bụng co cứng và không mất vùng đục trước gan.
Trong tiền sử thường có những cơn đau theo chu kỳ, xuất hiện vào những giờ nhất định, liên quan đến bữa ăn trong ngày và vào những mùa nhất định trong năm.
Rối loạn vận động túi mật và đường mật:
Do túi mật hoặc cơ tròn Lutchkens co bóp không đều, gây nên những cơn đau quặn gan điển hình tự hạ sườn phải lan lên vao phải (đau kiều dây đeo quần) nhưng:
Không sốt, không vàng da, vàng mắt.
Thường xảy ra ở người trẻ.
Có thể gây lại cơn đau bằng cách ấn nhanh vào vùng túi mật.
Cơn đau dạ dày trong bệnh tabét và giang mai thần kinh (giai đoạn III).
Đau dữ dội vùng thượng vị đột ngột.
Thường kèm theo nôn rất nhiều.
Cơn đau mất đi cũng rất đột ngột như lúc bắt đầu, ngoài cơn đau người bệnh hoàn toàn bình thường.
Bệnh này ngày nay rất hiếm gặp.
Đau bụng cấp nội khoa có thể chuyểnthành tình trạng ngoại khoa:
Cần phải theo dõi để phát hiện và xử trí kịp thời.
Áp xe gan:
Đau ở vùng gan lan sang ngực, đau không giám cử động mạnh và thở mạnh.
Toàn thân có dấu hiệu nhiễm khuẩn (sốt, mô khô, lưỡi bẩn, bạch cầu tăng…).
Khám thấy gan to và rất đau.
Khi áp xe tiến triển vỡ vào ổ bụng, sẽ gây tình trạng viêm màng bụng cấp - bụng cứng và phản ứng mạnh, bất động không theo nhịp thở, tình trạng nhiễm khuẩn nặng.
Sỏi mật:
Gây những cơn đau quặn gan điển hình.
Tiếp theo là sốt, rồi vàng da.
Bệnh có thể có biến chứng gây lan rộng, vỡ vào màng bụng gây viêm màng bụng giống như ápxe gan.
Viêm túi mật:
Đau vùng túi mật lan lên vai kèm hội chứng nhiễm khuẩn.
Khám, ấn vào điểm túi mật rất đau và làm nghiệm pháp Murphy thấy dương tính: người bệnh hít vào sâu, trong khi đó ta đè ngón tay sâu dần vào điểm túi mật đến một lúc nào đó, vì đau, người bệnh sẽ lại dừng đột ngột không dám hít vào nữa: trong viêm túi mật, nghiệm pháp này dương tính.
Viêm túi mật có thể vỡ vào ổ bụng gây nên tình trạng viêm màng bụng giống như apxe gan, hoặc mật có thể thấm qua vách túi mật, gây nên tình trạng nhiễm mật màng bụng và cũng có dấu hiệu viêm màng bụng.
Giun chi ống mật:
Đau đột ngột, dữ dội và lăn lộn, ở vùng thượng vị và hạ sườn phải (người bệnh thường phải nằm chổng mông hoặc dựng hai chân lên tường cho bớt đau).
Khám thấy điểm sườn lưng và mũi ức rất đau.
Tiền sử người bệnh có nhiều giun (nôn và đại tiện ra giun).
Bệnh thường đươc theo dõi và điều trị nội khoa nhưng nếu có biến chứng (tắc mật, ápxe, thủng…) thì trở thành cấp cứu ngoại khoa, cần phẫu thuật.
Đau ở vùng hố chậu và bụng dưới
Đau bụng ngoại khoa:
Viêm ruột thừa:
Đau âm ỉ ở vùng hố chậu phải.
Rối loạn tiêu hoá: Buồn nôn, nôn bí đại và trung tiện, có khi ỉa lỏng..
Khám ấn vào điểm ruột thừa Mac Burney rất đau, có khi có phản ứng thành bụng vùng hố chậu phải.
Hội chứng nhiễm khuẩn: Sốt và bạch cầu trong máu tăng.
Thăm trực tràng hay âm đạo, thấy đau ở vùng túi cùng bênphải.
U nang buồng trứng bị xoắn:
Đau vùng hố chậu dữ dội và đột ngột.
Tình trạng sốc.
Khám bụng và thăm âm đạo thấy khối u ở một bên hố chậu. Theo dõi thấy khối u to nhanh.
Chửa ngoài dạ con bị vỡ:
Người bệnh tắt kinh hai, ba tháng, đột nhiên đau ở vùng hố chậu hoặc bụng ưới, ra máu ở âm đạo.
Đặc biệt là có tình trạng chảy máu trong: Thiếu máu nhanh chóng, mạch nhỏ và nhanh, huyết áp hạ, người bệnh bị ngất mỗi lần ngồi lên hoặc thay đổi tư thế, hồng cầu giảm nhanh.
Thăm âm đạo, thấy túi cùng sau phồng (túi cùng Douglas) và rất đau (tiếng kêu Douglas), đồng thời khi rút tay ra thấy có máu theo tay.
Đau bụng cấp nội khoa:
Đau bụng kinh (thống kinh):
Đau ở vùng hạ vị hoặc hố chậu, cơn đau thừong tương ứng với thời kỳ kinh nguyệt.
Viêm đại tràng cấp do amip:
Thường đau ở hố chậu phải và trái (vùng hồi manh tràng và đại tràmg sichma). Có hội chứng kiết lỵ (đại tiện ra máu, mũi).
Đau toàn bụng hoặc đau không có vị trí gợi ý chẩn đoán
Đau bụng cấp ngoại khoa:
Thủng ruột do thương hàn:
Người bệnh đang điều trị hoặc theo dõi bệnh thương hàn, đột nhiên đau dữ dội ở bụng.
Tình trạng sốc: Mạch nhanh, nhiệt độ hạ đột ngột (phân ly mạch nhiệt độ).
Khám bụng có phản ứng co cúng, gõ mất vùng đục trước gan, x quang thấy hình liềm hơi. Từ ngày có cloroxit biến chứng này ít gặp.
Tắc ruột:
Đau quặn từng cơn ở bụng.
Bụng chướng to dần, nôn nhiều, bí đái và bí trung tiện.
Khám thấy các quai ruột nổi cuộn (triệu chứng rắn bò).
X quang thấy mức nước và hơi ở các quai ruột.
Ngoài ra còn một số đau bụng ngoại khoa khác như lồng ruột xoắn ruột, nhồi máu mạc treo, viêm túi thừa Mecken viêm màng bụng cấp do lao, do vi khuẩn… nói chung các bệnh này thường ít gặp hơn trong phạm vi bài này không thể hết được.
Đau bụng cấp nội khoa:
Đau bụng giun:
Các loại ký sinh vật tiêu hoá đều có thể gây đau bụng kèm theo rối loạn tiêu hoá, hay gặp nhất là đau bụng do giun đũa có đặc điểm là:
Đau quanh vùng rốn.
Buồn nôn và nôn.
Trong tiền sử người bệnh có nhiều giun.
Thử phân thấy nhiều trứng giun.
Đau bụng do viêm ruột cấp:
Do ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc.
Gây những cơn đau quặn bụng, nôn, ỉa nhiều lần.
Những dấu hiệu nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc kèm theo.
Tình trạng mất nước nhanh chóng có thể dẫn tới tình trạng truỵ tim mạch.
Cơn đau quặn thận:
Hay gặp nhất là do sỏi thận, nhất là ở sỏi niệu quản.
Đau dữ dội ở vùng thận xuất hiện sau khi vận động nhiều.
Đau lan xuống dưới, đến bộ phận sinh dục hoặc bẹn.
Thường kèm theo các rối loạn tiết niệu khác như đái ra máu, đái buốt..
Đau bụng do nhiễm độc chì:
Những người tiếp xúc với chì lâu ngày, bị nhiễm độc, có thể xuất hiện những cơn đau bụng kèm theo những dấu hiệu nhiễm độc khác (thiếu máu, viêm nhiều dây thần kinh…). Đau bụng ở đây có đặc điểm là:
Đau dữ dội lan toả khắp bụng nhưng bụng mềm, không có điểm đau rõ rệt.
Các rối loạn khác: Táo bón kéo dài, quanh chân răng thấy nền xanh, tỷ lệ chì trong máu trong nước tiểu tăng cao.
Đau bụng do dị ứng:
Thường gặp nhất là bệnh Schoelein Henoch, người bệnh thường trẻ tuổi (thiếu niên).
Đau bụng dữ dội và đột ngột, có khi đau rất nhiều, gây phản ứng thành bụng, chướng bụng khiến có thể nhầm với một tình trạng cấp cứu ngoại khoa.
Ỉa chảy: Có khi ỉa phân đen.
Bao giờ cũng đau, sưng các khớp, chảy máu dưới da thành nhiều kiểu các nốt máu ở dưới chi dưới, nhất là quanh các khớp cổ chân và đầu gối.
Đau bụng do thiếu canxi:
(suy cận giáp trạng, ăn thiếu canxi, mất nhiều can xi…).
Đau bụng dữ dội kèm theo ỉa lỏng do các cơ trơn của dạ dày và ruột bị co.
Bao giờ cũng có những biểu hiện ở các chi gây nên nhưng cơn co cứng (ban tay đỡ đẻ, chân bàn đạp).
Khám thấy dấu hiệu Chyosyek và thử máu thấy Ca+ giảm.
Đau bụng ở bệnh nhiễm khuẩn:
Một số bệnh nhiễm khuẩn có thể gây đau bụng như cảm, sốt rét, thương hàn. Thường phối hợp với triệu chứng toàn thân và các rối loạn tiêu hoá khác.
Những nguyên nhân gây nên đau bụng mạn tính
Gồm những bệnh có cơn đau diễn biến kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Ta sẽ không nhắc lại những bệnh có cơn đau kéo dài nhưng có những đợt đau cấp đã tả ở trên như đau do lóet dạ dày, hành tá tràng, sỏi mật, nhiễm độc chì, giun.
Lao ruột
Thường đau âm ỉ ở vùng hồi manh tràng (hố chậu phải).
Có hội chứng bán tắc ruột Koenig và rối loạn đại tiện.
Kèm theo dấu hiệu nhiễm lao ở các bộ phận khác. Muốc xác định cần chụp x quang đại tràng.
Viêm đại tràng mạn tính
Đau quặn từng cơn dọc đại tràng.
Kèm theo các rối loạn đại tiện: Táo, lỏng, ra máu và mũi.
Viêm màng bụng do lao
Hoặc đau bụng âm ỉ, rối loạn tiêu hoá, khám bụng thấy màng bụng dính từng đám gõ chỗ đục chỗ trong (thể bã đậu).
Hoặc đau quặn từng cơn, có dấu hiệu bán tắc ruột (thể xơ dính).
Viêm buồng trứng hay phần phụ sinh dục mạn tính
Đau âm ỉ ở vùng hố chậu hay hạ vị.
Rối loạn kinh nguyệt, ra khí hư.
Các khối u ở bụng
Ung thư dạ dày, ruột, gan, tuỵ tạng… đều có thể gây đau bụng, có khi là những khối u ở nơi khác di căn đến vùng bụng cũng gây đau. Phát hiện bằng khám lâm sàng và chụp x quang.
Một số nguyên nhân khác như viêm trực tràng, viêm hồi tràng, viêm đại tràng đoạn cùng gây nên tình trạng đau bụng kéo dài giống như viêm đại tràng mạn tính và muốn xác định cần phải thăm khám kỹ kết hợp với những yếu tố Xquang và xét nghiệm khác.
Đau bụng là một triệu chứng chung, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, do đó đứng trước một người bệnh đau bụng, cần phải thăm khám kỹ lưỡng để phát hiện nhanh chóng những trường hợp ngoại khoa, kịp thời xử trí phẫu thuật, tránh những hậu quả nguy hiểm cho người bệnh. Trong những trường hợp nghi ngờ cần phải theo dõi cẩn thận và liên tục, làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng và tranh thù ý kiến của những người làm công tác ngoại khoa chuyên môn.
Ngoài ra đối với những bệnh gây nên những cơn đau bụng cấp nội khoa, cũng cần phải chẩn đoán kịp thời để có thái độ xử trí, tránh tình trạng đau đớn kéo dài cho người bệnh.
Bài viết cùng chuyên mục
Hội chứng hạ Glucose (đường) máu
Người ta nhận thấy nói chung glucoza máu từ 60mg%, trở xuống chắc chắn có triệu chứng, glucoza máu càng hạ, triệu chứng càng nặng. Nhưng không nhất thiết có sự hạ glucoza máu và sự nặng nhẹ của các biểu hiện lâm sàng.
Âm thổi tâm trương: âm thổi hẹp van hai lá
Khi lỗ van bị hẹp, lượng máu lưu thông qua nó trong kì tâm trương trở nên rối loạn và tạo nên tâm thổi đặc trưng. Rất đặc hiệu cho hẹp van hai lá và cần được tầm soát thêm nếu nghe được.
Tiếng click giữa tâm thu: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Trong sa van hai lá, các lá van, đặc biệt là lá trước, bật ngược vào trong tâm nhĩ ở kì tâm thu. Tiếng click giữa tâm thu xảy ra khi lá trước của van hai lá bật ngược vào trong tâm nhĩ, tạo ra sức căng trên các thừng gân.
Cơ bản về điện tâm đồ
Bình thường xung động đầu tiên xuất phát ở nút xoang nên nhịp tim gọi là nhịp xoang, Trường hợp bệnh lý, xung động có thể phát ra từ nút Tawara hay ở mạng Purkinje.
Hội chứng chảy máu
Người bệnh đến khoa sản vì rong kinh hay băng huyết, đến khoa tai mũi, họng vì chảy máu cam, đến khoa răng vì chảy máu chân răng
Triệu chứng học dạ dày
Dung lượng dạ dày có thể chứa được 1, 1,5 lít, gồm 2 phần, phần đứng là thân dạ dày, phần ngang là hang vị
Thở nhanh: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Bất kỳ tình trạng nào gây nên sự xáo trộn về oxy (giảm oxy mô), pCO2 (tăng CO2) hoặc tình trạng acid/base (toan) sẽ kích thích hô hấp và tăng nhịp thở.
Hội chứng raynaud: tại sao và cơ chế hình thanh
Khi cơ thể tiếp xúc với nhiệt độ lạnh hoặc trong tình trạng stress sẽ kích thích hệ giao cảm làm co động mạch ở ngón chân và ngón tay. Trái ngược hoàn toàn với người bình thường.
Tăng phản xạ: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Tăng phản xạ là một triệu chứng của neuron vận động trên. Các tổn thương neuron vận động trên làm tăng hoạt động của neuron vận động gamma và giảm hoạt động của neuron ức chế trung gian.
Hội chứng rối loạn vận động
Mỗi hoạt động của con người đều có sự chi phối của hệ thần kinh từ vỏ não, hệ thống ưới vỏ, tủy sống, đến rễ dây thần kinh-cơ, với sự kết hợp hài hoà của hệ xương, khớp, gân, cơ.
Giảm phản xạ (dấu hiệu Woltman): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có những báo cáo chung về giá trị của phản xạ (đặc biệt là phản xạ gân gót) như là dấu hiệu để chẩn đoán cường giáp và suy giáp. Thời gian bán nghỉ ở những người khoẻ xấp xỉ 240 đến 320 ms.
Thăm khám cận lâm sàng tim
Bằng phương pháp chiếu thông thường, các tia x quang toả từ bóng ra nên khi chiếu hình ảnh của tim có kích thước to hơn kích thước thực sự.
Hội chứng Protein niệu
Thành phần chủ yếu của protein niệu thông thường là albumin và globulin, Dựa vào kết quả điện di protein, người ta chia protein niệu chọn lọc và không chọn lọc.
Tổn thương Janeway: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Tổn thương Janeway có giá trị giới hạn của một dấu hiệu, chỉ gặp ở 4–10% bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Nếu xuất hiện, cần tầm soát thêm các dấu hiệu khác của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
Hội chứng ống cổ tay
Hội chứng ống cổ tay được James Paget mô tả từ giữa thế kỷ 18. Đây là một rối loạn thần kinh ngoại vi thường gặp nhất, khoảng 3% người trưởng thành ở Mỹ có biểu hiện hội chứng này.
Đốm Roth: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra đốm roth như đã nói và nó chỉ có thể được tìm thấy ở <5% bệnh nhân có viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, nên giá trị độc lập với các triệu chứng lâm sàng khác của nó bị hạn chế.
Đau bụng
Đau bụng là một dấu hiệu cơ năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hóa và các tạng trong ổ bụng. Dấu hiệu đau có tính chất gợi ý đầu tiên khiến người thầy thuốc có hướng hỏi bệnh, thăm khám bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây đau bụng là gì.
Tiếng tim thứ nhất mờ: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Khoảng PR dài cho nhiều thời gian giữa thời kỳ nhĩ thu và thất thu hơn cho các lá van di chuyển về gần nhau, vì vậy, khi thất thu, các lá van đã sẵn sàng để đóng lại nên gây ra ít tiếng động hơn.
Bệnh võng mạc do tăng huyết áp và xuất huyết võng mạc
Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến dày nội mạc và thiếu máu cục bộ. Làm thoái hóa mạch máu võng mạc đến độ làm rỉ huyết tương và chảy máu trên võng mạc.
Dáng đi thất điều: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Dáng đi thất điều điển hình là dấu hiệu của tiểu não giữa, nhưng có thể có trong tổn thương bán cầu tiểu não. Trong nghiên cứu bệnh nhân có tổn thương tiểu não một bên, thất điều tư thế hiện diện 80-93 phần trăm.
Bập bềnh xương bánh chè: tại sao và cơ chế hình thành
Nghiên cứu có giới hạn về quan sát dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè cụ thể trong tràn dịch khớp gối đã được hoàn thành. Kết quả chỉ cho thấy một giá trị trung bình cho dấu hiệu này.
Tiếng thở phế quản: tại sao và cơ chế hình thành
Bình thường, tiếng thở phế quản không nghe thấy ở trường phổi vì thành ngực làm yếu đi những âm có tần số cao. Nếu có đông đặc, những âm tần số cao này có thể truyền qua được rõ ràng.
Rối loạn chuyển hóa Kali
Rối loạn tuần hoàn: hạ huyết áp tư thế đứng hoặc trạng thái tăng huyết áp không ổn định, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, nhịp xoắn đỉnh, rung thất.
Dấu hiệu Trousseau’s: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có rất ít các nghiên cứu trực tiếp về độ nhạy và độ đặc hiệu của dấu hiệu trousseau. khoảng 11% tất cả bệnh nhân ung thư sẽ bị viêm tĩnh mạch huyết khối, ngược lại 23% các bệnh nhân được tìm thấy bằng chứng qua khám nghiệm tử thi.
Co kéo khoang gian sườn: tại sao và cơ chế hình thành
Tại thời điểm có suy hô hấp và tắc nghẽn đường dẫn khí, các cơ hô hấp phụ được sử dụng và áp lực trong lồng ngực bên trên càng giảm hơn nữa, điều này có thể quan sát được trong thì hít vào bình thường.
