Ỉa chảy cấp, mạn tính

2011-10-23 02:30 PM

Ỉa chảy là một triệu chứng do rất nhiều nguyên nhân phức tạp gây nên, muốn nắm được các nguyên nhân đó, cần phải biết sự hoạt động bình thường của quá trình tiêu hoá.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Ỉa chảy là hiện tượng ỉa nhiều lần trong ngày, nhưng chủ yếu là phân nhão, lỏng hay nước. Độ rắn mềm trong phân do độ nước trong phân quyết định.

Phân có 85% thành phần là nước thì nhão.

Phân có 88% thành phần là nước thì lỏng.

Có 90% thành phần là nước thì phần lỏng như nước.

Ỉa chảy là một triệu chứng do rất nhiều nguyên nhân phức tạp gây nên, muốn nắm được các nguyên nhân đó, cần phải biết sự hoạt động bình thường của quá trình  tiêu hoá và những rối loạn gây nên ỉa chảy.

Sinh lý tiêu hóa

Tiêu hoá bình thường

Tiêu hoá bình thường gồm 4 quá trình:

Tiết dịch: Dạ dày tiết dịch dạ dày, gan tiết mật, tuỵ tạng tiết dịch, tuỵ và ruột non tiết các men ruột.

Co bóp nhu động: Sự co bóp của dạ dày, ruột nhằm trộn lẫn thức ăn với dịch thiêu hoá và đưa xuống dưới.

Tiêu hoá: Là qua trình tác dụng của các dịch tiêu hoá,các men và vi khuẩn nhằm phân giải thức ăn - HCl và pepsin của dạ dày: trypsin, amylaza, lipaza của tuỵ tạng, sắc tố mật, muối mật của gan - các men enterokinaza, amino polipepti aza, nucleaza, manfoza, sacaraza của ruột non và vai trò của những loại vi khuẩn cộng sinh trong đại tràng, phân giải xenluloza thành glucoza.

Hấp thụ: Sau khi tiêu hoá, thức ăn được phân giải sẽ được hấp thụ qua ruột, phần lớn các thành phần của protit, gluxit, lipit, các chất điện giải vitamin được hập thụ ở hồng tràng, còn được hập thụ lại ở đại tràng và làm cho phân đóng khuôn lại.

Để điều hoà 4 quá trình trên, hệ thống phó gao cảm (giây thần kinh X) và giao cảm đóng vai trò quan trọng.

Phó giao cảm: Tăng nhu động và tiết dịch.

Giao cảm: Giảm nhu động và tiết dịch.

Khi các quá trình trên bị rối loạn sẽ gây nên ỉa chảy, vậy sự rối loạn đó như thế nào?

Những rối loạn tiêu hoá gây ỉa chảy

Tăng tiết dịch: Khi sự tiết dịch tăng nhiều, vượt quá khả năng hấp thụ có thể gây nên ỉa chảy. Các yếu tố kích thích như nhiễm khuẩn, nhiễm độc thường gây nên tăng tiết dịch và đó là phản xạ tự vệ  nhằm loại trừ kích thích ra ngoài.

Tăng nhu động: Ỉa chảy có thể là hậu quã của việc tăng nhu động, co bóp, bởi vì tăng co bóp làm cho thức ăn qua ruột  nhanh chóng không kịp tiêu hoá và hấp thụ. Các kích thích nhiểm khuẩn, nhiễm độc và rối loạn tâm thần thần kinh làm tăng co bóp.

Tiêu hoá kém: Khi tác dụng của các dịch tiêu hoá, các men, vi khuẩn giảm đi, thức ăn được hấp thụ  sẽ k m đi và hậu quả dẫn đến ỉa chảy. Tiêu hoá kám có thể do:

Thiếu dịch tiêu hoá, cắt dạ dày, ruột…

Thiếu men, viêm tuỵ, tắc mật…

Thiếu vi khuẩn ( dùng quá nhiều kháng sinh diệt hết vi khuẩn cộng sinh ở ruột…).

Tiêu hoá kém còn có thể do thức ăn  được chuyển đi quá nhanh chưa kịp tiêu hoá (tăng nhu động) và ta gọi là sự thiếu thời gian tiêu hoá.

Hấp thụ kém: Ỉa chảy có thể là hậu quả của thức ăn  được hập thụ ít hoặc không được hấp thụ. Kém hấp thụ có thể do:

Thành của ruột bị tổn thương (viêm, ung thư…).

Hoặc là hậu quả quá trình trên (tăng tiết dịch,tăng nhu động, tiêu hoá kém).

Trên đây là cơ chế sinh bệnh của ỉa chảy, có rất nhiều nguyên nhân tác động lên các cơ chế đó, muốn tìm hiểu ta cần phải tiến hành hỏi bệnh, thăm khám và làm các  xét nghiệm cần thiết.

Thăm khám người bệnh

Hỏi bệnh

Hỏi về tính chất ỉa chảy.

Hoàn cảnh: Xuất hiện của ỉa chảy. Rất quan trọng khi nguyên nhân là nhiễm khuẩn, nhiễm độc, dùng thuốc hoặc sau phẫu thuật về tiêu hoá…

Sự bắt đầu ỉa chảy: Đột ngột hay từ từ.

Số lần đại tiện: Ỉa chảy cấp có khi tới hàng trăm lần trong ngày. Ỉa chảy mạn tính thường ít lần hơn.

Về tính chất của phân: Cần kết hợp chặt chẽ giữa hỏi và xem trực tiếp phân.

Các rối loạn khác về tiêu hoá và toàn thân.

Buồn nôn, nôn.

Đau bụng, đau quặn, đau hậu môn, mót rặn.

Ăn kém, sợ mỡ.

Sốt.

Các biểu hiện về nhiễm khuẩn, nhiễm độc, suy nhược…

Khám lâm sàng

Khám phân. Là khâu quan trọng bậc nhất đối  trong quá trình khám đối với  người bệnh ỉa chảy.

Khám bộ máy tiêu hoá. Khám có hệ thống toàn bộ về tiêu hoá, không nên thăm trực tràng.

Khám toàn thân: Chú ý đến một số triệu chứng có liên quan đến nguyên nhân và hậu quả của ỉa chảy.

Hội chứng nhiễm khuẩn: Số, lưỡi bẩn, mệt nhọc…

Hội chứng nhiễm độc: Tùy theo từng  chất độc gây ỉa chảy có những biểu hiện khác nhau.

Hội chứng mất nước và các chất điện giải: Đây là hậu quả quan trọng nhất của ỉa chảy cấp, cần được xử trí kịp thời.

Khát nước, khô miệng và niêm mạc.

Mắt sâu, da nhăn nheo, chân tay lạnh.

Đái ít rồi không đái, sẽ gây tình trạng urê máu cao.

Chuột rút do thiếu Ca, toan máu do thiếu Na, rối loạn nhịp tim do thiếu K. Nếu tình trạng mất nước trầm trọng hơn sẽ dẫn tới:

Hội chứng truỵ tim mạch:

Vã mồ hôi, lạnh chân tay.

Mạch nhỏ và nhanh.

Huyết áp hạ có khi không còn.

Cần được xử trí kịp thời, nếu không thường d6ãn tới tử vong.

Các hội chứng  suy dinh dưỡng, thiếu máu, thếiu vitamin: Thường là hậu quả của các  loại ỉa chảy mạn tính.

Gầy rất nhiều, có thể phù.

Da khô hay bong vảy.

Lông tóc rụng nhiều…

Xét nghiệm

Ngoài các xét nghiệm thông thường, tuỳ theo mỗi nguyên nhân cần làm các xét nghiệm sau:

Xét nghiệm phân: Về hoá học, vi khuẩn và ký sinh vật, tổ chức tế bào.

Các xét nghiệm thăm dò tiêu hoá: Dịch dạ dày, dịch tuỵ, mật, sự hấp thụ của ruột.

Các xét nghiệm đánh giá hậu quả của ỉa chảy: Urê, các chất điện giải, prôtit trong máu, thể tích hồng cầu…

Soi dạ dày, trực tràng, sinh thiết ruột non.

Chụp đại tràng, ruột non…

Nguyên nhân

Đứng về mặt lâm sàng ta chia làm hai loại ỉa chảy cấp và ỉa chảy mạn tính.

Các nguyên nhân gây ỉa chảy cấp tính

Đối với ỉa chảy cấp, các nguyên nhân thường rõ ràng, dễ phát hiện:

Nhiễm khuẩn.

Các loại vi khuẩn đường ruột như: Phẩy khuẩn tả, trực khủan ly, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, tụ cẩu khuẩn, một số virus đường ruột nói chung đều gây ỉa chảy kèm theo hội chứng nhiễm khuẩn, muốn chẩn đoán cần lấy phân.

Các loại ký sinh vật đường ruột, nhất là amip, cũng có thể gây ỉa chảy cấp.

Các bệnh nhiễm khuẩn khác cũng có thể gây ỉa chảy như cúm, sốt rét, viêm tai xương chũm.

Nhiễm độc.

Thuỷ ngân: Ỉa chảy kèm theo dấu hiệu viêm thận.

Asen: Ỉa chảy, nổi mẩn và chảy máu ngoài da.

Nấm độc: Dễ chẩn đoán vì người bệnh tự khai.

Tình trạng toan máu hoặc urê máu cao: Ỉa chảy là phản ứng của cơ thể  nhằm phải trừ urê qua đường tiêu hoá.

Các nguyên nhân khác.

Do dị ứng: Đối với những thức ăn gây dị ứng.

Do thuốc: Do không chịu được thuốc, hoặc uống thuốc quá nhiều (Nasunfat,Mg sunfat…).

Do tinh thần: Lo lắng, sợ hãi quá mức.

Các nguyên nhân gây ỉa chảy mạn tính

Ngược lại với ỉa chảy cấp tính, ỉa chảy mạn tính tiến triển kéo dài và có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều khi khó phát hiện.

Do nhiễm khuẩn và ký sinh vật:

Lao đại tiểu tràng: Thường xuất hiện sau lao phổi, có dấu hiệu nhiễm lao, đồng thời đau bụng, đại tiện nhiều lần phân nhão, ít khi lỏng. Xác định bằng cấy phân và chụp x quang ruột.

Viêm đại tiểu tràng mạn tính: Đau bụng, phân lúc lỏng, lúc táo, phân lẫn máu và mũi.

Ỉa chảy do giun mỏ, sán Lambli: soi thấy trong phân.

Do rối loạn quá trình tiêu hoá và hấp thụ:

Thiếu dịch dạ dày sau cắt đoạn dạ dày: Phân nhão, sống và có mùi chua thử dịch dạ dày lượng HCl rất thấp.

Thiếu dịch tuỵ (viêm tuỵ mạn tính): Phân rất nhiều, bóng, láng mỡ soi kính còn nhiều hạt mỡ và thớ cơ trong phân.

Thiếu mật (tắc mật, xơ gan): Phân nhạt màu, có mỡ.

Thiếu men tiêu hoá ở ruột non: Sau phẫu thuật cắt bỏ một phần ruột non, lỗ rò của ruột non.

Thiếu vi khuẩn phân giải xenluloza thường do dùng nhiều kháng sinh loại tác dụng rộng (biomyxin, tetraxylin…) diệt hết vi khuẩn hoặc sau cắt bỏ đại tràng.

Những bệnh có tổn thương thực thể:

Ung thư tiểu tràng, đại tràng: Xác định bằng x quang.

Pôlip đại tràng: Xác định bằng soi và chụp x quang.

Viêm trực tràng đại tràng, chảy máu và loét.

Bệnh viêm cuối hồi tràng (Crohn): Xác định bằng x quang.

Bệnh Sprue Whipple rất hiếm gặp.

Những nguyên nhân khác:

Rối loạn nội tiết: Basedow, suy thượng thận.

Rối loạn thần kinh, tâm thần.

Ỉa chảy là một triệu chứng do rất nhiều nguyên nhân gây nên, nó là kết quả của sự rối loạn các quá trình tiết dịch, co bóp, tiêu hoá và hấp thụ.

Ỉa chảy cấp tính nguyên nhân thườgn do nhiễm khuẩn và hậu quả thường dẫn đến tình trạng mất nước, truỵ tim mạch, cần hết sức chú ý.

Ỉa chảy mạn tính do rất nhiều nguyên nhân phức tạp gây nên, đòi hỏi phải thăm khám kỹ lưỡng, làm xét nghiệm phối hợp để chẩn đoán. Hậu quả của ỉa chảy mạn tính thường dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng toàn thân.

Bài viết cùng chuyên mục

Rối loạn chuyển hóa lipid

Lipit là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất của cơ thể (ở người bình thường, lipit có thể chiếm tới 40% thể trọng). lipit còn tham gia vào cấu trúc tế bào (màng bào tương), đặc biệt là tổ chức thàn kinh và nội tiết.

Sự thuận tay: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong các bệnh nhân có triệu chứng bán cầu não ưu thế hay không ưu thế, tay thuận có giá trị xác định. Bên tay thuận có tương quan với bên bán cầu não ưu thế và vì vậy có giá trị định khu.

Dấu hiệu đường rãnh (Sulcus sign): tại sao và cơ chế hình thành

Trên nền một khớp vai không ổn định, khi kéo cánh tay xuống, đầu của xương cánh tay sẽ di chuyển tương đối xuống dưới so với khớp vai. Đây cũng là nguyên nhân làm xuất hiện “rãnh” trên da.

Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh hữu ích khi phối hợp với những dấu hiệu và triệu chứng khác và sẽ tăng giá trị tăng JVP. Nó nhạy nhưng không đặc hiệu cho bất kì bệnh nào, vì vậy phải xem xét tổng thể lâm sàng.

Tạo đờm: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Dịch nhầy được sản sinh ra từ các tuyến bên trong cây khí phế quản. Các chất kích thích như khói thuốc lá hoặc tình trạng viêm làm tăng sản xuất chất nhầy.

Thở rít: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Bất kì tắc nghẽn nào ở đường dẫn khí ngoài lồng ngực (trên thanh môn, thanh môn, dưới thanh môn và/hoặc khí quản) làm hẹp và rối loạn chuyển động dòng khí, sinh ra tiếng thở rít.

Lồi mắt do bệnh Graves: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong bệnh Graves, kháng thể kháng thụ thể tuyến giáp được sản xuất như là 1 phần trong quá trình của bệnh. Những kháng thể hoạt động trên tuyến giáp cũng ảnh hưởng đến nguyên bào sợi của hốc mắt.

Đái ra mủ

Đái ra mủ nhiều, mắt thường có thể thấy nước tiểu đục, đái ra mủ nhẹ, nước tiểu vẫn trong, phải nhìn qua kính hiển vi mới thấy được. Là hiện tượng có mủ trong nước tiểu. Bình thường nước tiểu có rất ít hồng cầu (không quá 2000 bạch cầu/phút).

Hội chứng cường thùy trước tuyến yên

Bệnh ít khi đứng một mình, thường phối hợp với bệnh to các viễn cực. Cũng có khi phối hợp với bệnh nhi tính. Cơ thể to, nhưng tinh thần và tình dục còn như trẻ con.

Rì rào phế nang: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Khi có những âm thấp hơn bị hãm nhỏ lại bởi phổi và thành ngực ở người khỏe mạnh, chỉ còn lại những âm cao hơn và nghe thấy rõ trong thính chẩn.

Biến đổi hình thái sóng: sóng y xuống lõm sâu (dấu hiệu Friedrich)

Sóng y xuống lõm sâu xảy ra trong khoảng 1/3 bệnh nhân bị viêm màng ngoài tim co thắt và 2/3 bệnh nhân bị nhồi máu thất phải, mặc dù chưa được nghiên cứu nhiều và nó cũng thường khó thấy trên lâm sàng.

Triệu chứng học tuyến cận giáp

Tuyến cận giáp trạng gồm 4 tuyến nhỏ bằng hạt đậu nằm sát ngay sau tuyến giáp trạng, Bởi che lấp bởi tuyến giáp trạng, nên không nhìn sờ thấy khi khám lâm sàng.

Viêm góc miệng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến cản trở sự bảo vệ, sửa chữa và tái tạo của các tế bào biểu mô ở vị trí ranh giới giữa da và niêm mạc miệng, dẫn đến viêm teo niêm mạc miệng.

Thở ngáp cá: tại sao và cơ chế hình thành

Thở ngáp cá được cho là một phản xạ của thân não, là những nhịp thở cuối cùng của cơ thể nhằm cố gắng cứu sống bản thân. Đây được coi là nỗ lực thở cuối cùng trước khi ngừng thở hoàn toàn.

Viêm ngón: tại sao và cơ chế hình thành

Có thể đây là do sự xâm nhập của các yếu tố miễn dịch và cytokines liên quan đến các bệnh lý cột sống, giả thuyết khác cho rằng viêm điểm bám gân là tổn thương chính trong các bệnh lý cột sống và viêm bao khớp là do cytokines xâm nhập vào bao gân.

Khàn tiếng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Khàn tiếng thường nhất là triệu chứng của viêm dây thanh do virus, nhưng đây cũng có thể là một triệu chứng quan trọng của bệnh lý thần kinh. Khàn tiếng nên được giải thích trong bệnh cảnh lâm sàng toàn diện.

Gan to trong bệnh tim: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong suy tim sung huyết, cung lượng tim thấp hay suy giảm đổ đầy thất phải dẫn đến dồn áp lực ngược vào tĩnh mạch chủ dưới và các tĩnh mạch gan. Do tăng áp lực tĩnh mạch, gan trở nên ứ máu và to ra.

Bệnh võng mạc do tăng huyết áp và xuất huyết võng mạc

Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến dày nội mạc và thiếu máu cục bộ. Làm thoái hóa mạch máu võng mạc đến độ làm rỉ huyết tương và chảy máu trên võng mạc.

Hội chứng hạ Glucose (đường) máu

Người ta nhận thấy nói chung glucoza máu từ 60mg%, trở xuống chắc chắn có triệu chứng, glucoza máu càng hạ, triệu chứng càng nặng. Nhưng không nhất thiết có sự hạ glucoza máu và sự nặng nhẹ của các biểu hiện lâm sàng.

Hội chứng rối loạn cảm giác

Nơron cảm giác ngoại vi nằm ở hạch gai gian đốt sống, sợi trục của nó tạo thành những sợi cảm giác của dây thần kinh ngoại vi, nhận cảm giác dẫn truyền vào rễ sau.

Giảm phản xạ và mất phản xạ: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Trong một vài nghiên cứu trên các bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh thần kinh trước đó, 6-50% bệnh nhân mất phản xạ gân gót hai bên mặc dù đã dùng các nghiệm pháp tăng cường.

Sốt do ung thư: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Tế bào ung thư giải phóng các cytokine gây sốt. Các chất hoại tử u cũng giải phóng TNF và các chất gây sốt khác. Tủy xương hoại tử giải phóng các chất độc và cytokin phá hủy tế bào.

Yếu cơ gốc chi trong bệnh nội tiết: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân

Triệu chứng này xuất hiện ở 60-80% bệnh nhân cường giáp, ngoài ra nó cũng xuất hiện trong nhiều bệnh lý nội tiết và các rối loạn khác. Hiếm khi yếu cơ gốc chi là biểu hiện đầu tiên của bệnh cường giáp.

Đái ra huyết cầu tố

Trước đây người ta cho rằng đái ra huyết cầu tố, nguyên nhân chủ yếu là do sốt rét làm tan vỡ nhiều hồng cầu, Nhưng ngày nay, người ta thấy ngược lại.

Tiếng vang thanh âm: nguyên nhân và cơ chế hình thành

Sự khác nhau trong tiếng vang thanh âm được xác định bằng tần số dẫn truyền (Hz) và đặc tính thể lý của phổi bình thường, phổi có dịch và phổi đông đặc.