- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh tim
- Hẹp van hai lá
Hẹp van hai lá
Hầu hết tất cả các bệnh nhân hẹp van hai lá đều có bệnh tim từ trước là bệnh thấp tim mặc dù tiền sử thấp tim thường không rõ ràng.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điếm cơ bản trong chẩn đoán
Khó thở, khó thở khi nằm và khó thở kịch phát về đêm.
Các triệu chứng được khởi phát khi xuất hiện rung nhĩ hoặc có thai.
Tiếng thứ nhất đanh, tiếng clăc mở van (thường có), tiếng rung mạch dần ở mỏm.
Điện tâm đồ cho thấy có những bất thường của nhĩ trái và thường có rung nhĩ. Siêu âm Doppler xác nhận chuẩn đoán và đánh giá mức độ nặng của bệnh.
Nhận định chung
Hầu hết tất cả các bệnh nhân hẹp van hai lá đều có bệnh tim từ trước là bệnh thấp tim mặc dù tiền sử thấp tim thường không rõ ràng.
Các dấu hiệu và triệu chứng
Dấu hiệu đặc trưng của hẹp hai lá là tiếng rung giữa tâm trương khu trú, âm độ thấp, thời gian của tiếng rung thay đổi theo mức độ hẹp và tần số tim. Bỏi van dày nên khi mở ở thời kỳ đầu tâm trương gây ra tiếng clắc mở van. Tiếng này có âm sắc cao, phân bố rộng khắp ngực và xảy ra ngay sau tiếng thứ hai (A2) trong những trường hợp hẹp nặng, và muộn hơn trong những trường hợp hẹp nhẹ hơn. Trong hẹp van hai lá nặng có lưu lượng máu qua van hai lá thấp, tiếng rung có thể yếu và khó phát hiện, nhưng tiếng clắc mở van hầu như bao giờ cũng nghe được. Nếu bệnh nhân có cả hẹp và hở van hai lá thì những đặc điểm nổi bật là có tiếng thổi tâm thu của hở hai lá và có hoặc không có tiếng rung tâm trương ngắn và tiếng clác mở van bị chậm lại.
Khi van hẹp dưới 1,5cm2 (bình thường 4 - 6cm2), áp lực nhĩ trái phải tăng cao để duy trì dòng máu bình thường qua van và một cung lượng tim bình thường. Điều này gây ra sự chênh lệch áp lực giữa nhĩ trái và thất trái trong thì tâm trương. Mức độ chênh áp và độ dài của tiếng rung tâm trương phản ánh mức độ nặng của hẹp van hai lá. Chúng tồn tại suốt thì tâm trương khi tổn thương nặng hoặc tần số thất nhanh.
Trong những trường hợp nhẹ, áp lực nhĩ trái và cung lượng tim co thể cơ bản là bình thường và bệnh nhân không có triệu chứng, nhưng trong hẹp vừa (diện tích lỗ van < 1,5cm2), đặc biệt là khi nhịp nhanh làm rút ngắn thời gian tâm trương và tăng lưu lượng máu qua van hai lá, thì khó thở và mệt mỏi xuất hiện vì áp lực nhĩ trái tăng cao gây ra ứ trệ ở tĩnh mạch phổi lúc nghỉ và giảm cung lượng tim, hậu quả là khó thở, mệt mỏi và suy tim phải. Tư thế nằm vào buổi tối làm tăng thêm thể tích máu lên phổi gây ra khó thở khi nằm, khó thở kịch phát ban đêm. Ứ máu phổi nặng cũng có thể xuất hiện do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, ăn muối và uống nhiều nước quá mức, viêm nội tâm mạc hoặc thấp tim tái phát. Do tăng áp lực phổi có từ lâu đã phát triển những mạng nối giữa tĩnh mạch phổi và tĩnh mạch phế quản gây ra sự giãn tĩnh mạch dưới niêm mạc phế quản. Những tĩnh mạch giãn này thường dễ vỡ gây ra ho ra máu nhẹ hoặc nặng, ở một vài bệnh nhân có động mạch trở nên bị hẹp, làm tăng đáng kể áp lực động mạch phổi và làm tăng nhanh sự phát triển phì đại và suy thất phải. Những bệnh nhân này bị khó thở tương đối ít nhưng dễ mệt mỏi khi gắng sức.
50 - 80% các bệnh nhân xuất hiện rung nhĩ kịch phát hay mạn tính, điều này có thể thúc đẩy xuất hiện khó thở hoặc phù phổi cấp, trừ khi tần số đáp ứng của thất được khống chế.
Các thăm dò chẩn đoán
Siêu âm là một kỹ thuật có giá trị nhất để đánh giá hẹp van hai lá. Van dày, mở kém và đóng chậm. Các lá van trước và sau di động kém và cùng chiều hơn là theo hướng ngược chiều. Kích thước nhĩ trái có thể được xác định bằng siêu âm. Kích thước nhĩ trái tăng chứng tỏ nhiều khả năng bị rung nhĩ hoặc tắc mạch đại tuần hoàn. Có thể đo được diện tích van hai lá và ước lượng được độ chênh áp và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler. Siêu âm cũng có thể phát hiện u nhày nhĩ, mà đôi khi nó có biểu hiện lâm sàng giống như hẹp van hai lá.
Bởi vì siêu âm và đánh giá cẩn thận các triệu chứng cho biết hầu hết các dữ liệu cần thiết, nên thông tim được sử dụng trước hết để phát hiện các bệnh van, bệnh mạch vành hoặc bệnh cơ tim phối hợp, sau khi đã đưa ra quyết định can thiệp.
Điều trị và tiên lượng
Hẹp van hai lả co thể không có hoặc chỉ một vài triệu chứng suốt đời, hoặc nó có thể nặng lên trong một vài năm, Trong hầu hết các trường hợp, có một giai đoạn dài không có triệu chứng, sau đó là hạn chế nhẹ các hoạt động thể lực. Sự xuất hiện rung nhĩ thường làm cho các triệu chứng nặng thêm, mặc dù khi hồi phục nhịp xoang (bằng các thuốc digoxin hoặc thường nhất là các thuốc chống loạn nhịp nhóm I hoặc nhóm III) hoặc khống chế được tần số thất, tình trạng bệnh nhân có thể được cải thiện. Chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang tiếp theo thường thành công nhất khi thời gian rung nhĩ ngắn (< 6 - 12 tháng) và nhĩ trái không quá to (đường kính < 4,5cm). Một khi rung nhĩ đã xảy ra, bệnh nhân nên được sử dụng liệu trình chống đông máu bằng warfarin ngay cả khi nhịp xoang đã được hồi phục vì 20 - 30% các bệnh nhân này sẽ bị tắc mạch đại tuần hoàn nếu không được điều trị. Tắc mạch đại tuần hoàn khi bệnh chỉ ở mức độ nhẹ hoặc vừa thì không có chỉ định phẫu thuật nhưng nên được điều trị bằng thuốc chống đông warfarin.
Các chỉ định để loại bỏ hẹp van bao gồm: (1) Phù phổi không thể khống chế được; (2) Khó thở nhiều và phù phổi từng cơn; (3) Các dấu hiệu của tăng áp phổi với phì đại thất phải và ho ra máu; (4) Hạn chế hoạt động mặc dù tần số thất đã được kiểm soát và điều trị bằng thuốc; (5) Tắc mạch hệ thống tái phát mặc dù đã chống đông máu trong trường hợp hẹp vừa và nặng.
Phẫu thuật tách mép van có thể đem lại hiệu quả ở những bệnh nhân không có hở hai lá thực tổn. Thay van được chỉ định khi kết hợp hẹp và hở hoặc khi van hai lá biến dạng và calci hóa nên không thể mổ tảch van được.
Tỷ lệ tử vòng phẫu thuật rất thấp, chỉ 1- 5% ở hầu hết các cơ sở. Nong van bằng bóng ngày càng trở nên phổ biến ở những bệnh nhân không có hở kèm theo. Tỷ lệ thành công ban đầu cao đặc biệt là khi van bị calci hóa không nhiều. Tỷ lệ hẹp lại thấp hơn so với hẹp van động mạch chủ. Do kết quả tốt, phương thức này có lẽ sẽ thay thế thích hợp phẫu thuật ở nhiều bệnh nhân tại các trung tâm có kinh nghiệm.
Những vấn đề kết hợp với van giả là huyết khối (đặc biệt là ở vị trí van), thủng cạnh van, viêm nội tâm mạc và thay đổi thoái hóa ở các van tổ chức mô. Chống đông bằng warfarin được sử dụng trong trường hợp van giả cơ học và cũng được sử dụng ít nhất trong ba tháng đầu với van giả sinh học, đặc biệt là nếu bệnh nhân có nhĩ trái to đáng kể và vẫn còn rung nhĩ.
Bài viết cùng chuyên mục
Hẹp van động mạch chủ
Hẹp van động mạch chủ có thể xảy ra sau thấp tim nhưng nguyên nhân thường gặp là do sự calci hóa van dần dần chồng chéo lên bệnh van động mạch chủ hai lá bẩm sinh hoặc ở người già có van bình thường trước đó.
Điều trị sau nhồi máu cơ tim
Những bệnh nhân có đau thắt ngực sau nhồi máu nên được chụp mạch vành. Các tác giả phân biệt các xét nghiệm nên thực hiện thường quy ở các bệnh nhân khác.
Hẹp eo động mạch chủ
Huyết áp sẽ tăng ở động mạch chủ và các nhánh của nó ở phần trước chỗ hẹp còn huyết áp lại giảm ở phần sau chỗ hẹp. Tuần hoàn bàng hệ phát triển qua các động mạch liên sườn và các nhánh của động mạch dưới đòn.
Bệnh cơ tim giãn
Thường không thể phát hiện được nguyên nhân, nhưng nghiện rượu lâu ngày và viêm cơ tim là những nguyên nhân thường gặp. Hơn nữa, nhiều người coi bệnh cơ tim giãn ngẫu phát thường là giai đoạn cuối của viêm cơ tim.
Viêm màng ngoài tim
Màng ngoài tim thường bị tổn thương do các quá trình làm tổn thương tim nhưng nó cũng có thể bị tổn thương bởi các bệnh của tổ chức kề bên và có thể là bệnh tiên phát tại piàng ngoài tim.
Ngoại tâm thu thất
Theo dõi điện tâm đồ di động hoặc theo dõi trong gắng sức sẽ cho thấy số lượng ngoại tâm thu thất nhiều hơn và các nhát ngoại tâm thu thất phức tạp hơn khi nó xảy ra trên 1 băng điện tâm đồ thường ngày.
Tim nhanh kịch phát trên thất
Cơ chế thường gặp nhất của tim nhanh kịch phát và kết thúc bởi một ngoại tâm thu nhĩ hoặc một ngoại tâm thu thất ngẫu nhiên. Vòng vào lại có thể bao hàm cả nút xoang, nút nhĩ thất, hoặc đường dẫn truyền phụ.
Hở van động mạch chủ
Hở van động mạch chủ đã trở nên ít gặp hơn từ thời đại kháng sinh, nhưng các nguyên nhân không do thấp lại thường gặp hơn, và là nguyên nhân chủ yếu gây hở van động mạch chủ đơn độc.
Thông liên nhĩ
Những bệnh nhân với shunt nhỏ có thể có cuộc sống bình thường, các shunt lớn sẽ gây ra biến chứng ở tuổi bốn mươi. Tăng sức cản mạch máu phổi thứ phát dẫn tới tăng huyết áp động mạch phổi hiếm khi xảy ra ở trẻ em.
Tăng áp động mạch phổi tiên phát
Một số tác giả ủng hộ dùng thuốc chống đông uống lâu dài. Hiệu quả của các thuốc dãn mạch còn đang được thảo luận một phần vì đáp ứng của chúng rất khác nhau.
Bệnh cơ tim hạn chế
Sinh thiết cơ tim thường âm tính với viêm màng ngoài tim nhưng không phải như vậy trong bệnh cơ tim hạn chế. Trong một số trường hợp chỉ có mổ thăm dò mới có thể chẩn đoán được.
Các khối u tim
Chẩn đoán xác định thường dựa vào siêu âm nhưng cộng hưởng từ hạt nhân và chụp cắt lớp bằng máy vi tính cũng có thể giúp ích.
Block đường ra xoang nhĩ và hội chứng nút xoang bệnh lý
Blốc xoàng nhĩ thường không có triệu chứng, mặc dù ngừng dài tương đương với ngừng xoang hiếm khi xảy ra như là một phần của hội chứng nút xoang bệnh lý và được điều trị như được phác thảo dưới đây.
Đau thắt ngực
Đau thắt ngực thường do bệnh xơ vữa các động mạch vành gây ra. Co thắt động mạch vành cũng có thể xẩy ra ở vị trí tổn thương hoặc hiếm hơn, ở những động mạch hoàn toàn bình thường.
Hẹp động mạch phổi
Bệnh nhân bị hẹp động mạch phổi nhẹ có thể có tuổi thọ bình thường. Hẹp nặng thường gắn liền với chết đột ngột và có thể gậy ra suy tim vào những năm 20 đến 30 tuổi.
Phân ly nhĩ thất và rối loạn dẫn truyền trong thất
Tiên lượng của blốc trong thất nói chung là tùy thuộc vào bệnh tim cơ sở. Ngay cả trong blổc hai phân nhanh, tỷ lệ blôc tim hoàn toàn huyền bí hoặc tiến triển tới hình thái blốc này rất thấp và tạo nhịp thường là không xác đáng.
Viêm cơ tim cấp nhiễm trùng
Bệnh nhân có thể có dấu hiệu trong vài ngày đến một vài tuần sau đợt sốt cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hồ hấp hoặc có suy tim mà không có triệu chứng trước đó.
Các kỹ thuật đánh giá rối loạn nhịp
Cần phải thật thận trọng trước khi gắn các triệu chứng của bệnh nhân với các rối loạn nhịp hoặc rối loạn dẫn truyền phát hiện thấy trong khi theo dõi liên tục mà không có triệu chứng đồng thời.
Nhồi máu cơ tim cấp
Kích thước và vị trí của ổ nhồi máu quyết định bệnh cảnh lâm sàng cấp, các biến chứng sớm và tiên lượng lâu dài. Các dấu hiệu huyết động có liên quan trực tiếp tới mức độ lan rộng của những lần nhồi máu trước.
Nhịp nhanh thất và rung thất
Nhịp nhanh thất là một biến chứng thường gặp của nhồi máu cơ tim cấp nhưng nó có thể xảy ra trong bệnh cơ tim phì đại, sa van hai lá, viêm cơ tim và trong hầu hết các hình thái khác của bệnh cơ tim.
Thủ thuật tái tưới máu cho các bệnh nhân bị đau thắt ngực
Sau khi phẫu thuật thành công các triệu chứng nói chung là giảm bớt. Nhu cầu các thuốc chống đau thắt ngực cũng giảm đi và chức năng thất trái tốt lên.
Thấp tim cấp và bệnh tim do thấp
Các tiêu chuẩn phụ gồm sốt, đau nhiều khớp, kéo dài khoảng PQ có thể trở về bình thường được, tốc độ lắng máu cao, các dấu hiệu của nhiễm liên cầu tan huyết beta trước đó, hoặc tiền sử có thấp tim.
Đau thắt ngực không ổn định
Hầu hết các bệnh nhân bị đau thắt ngực không ổn định sẽ có những thay đổi điện tâm đồ trong cơn đau, thường thấy sự chênh xuống của đoạn ST hoặc sóng T dẹt hoặc đảo ngược nhưng đôi khi ST lại chênh lên.
Block nhĩ thất
Những bệnh nhân bị blốc tim hoàn toàn từng cơn hoặc blốc dưới nút hoàn toàn mạn tính cần phải tạo nhịp vĩnh viễn, và tạo nhịp tạm thời được chỉ định nếu tạo nhịp cấy chưa được tiến hành ngay.
Cấp cứu tăng huyết áp
Ngày càng có nhiều các thuốc dùng trong điều trị cấp cứu tăng huyết áp, đã liệt kê các thuốc, liều lượng, và tác dụng phụ.
