Xuất huyết dạ dày ruột kín đáo

2016-11-21 11:10 AM

Đánh giá ruột non thường không cần thiết ở phần lớn các bệnh nhân, với test máu kín đáo ở phân dương tính hoặc thiếu máu do thiếu sắt, có đánh giá âm tính về ruột kết và đường dạ dày - ruột trên.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Các yếu tố thiết yếu của chẩn đoán

Không có xuất huyết dạ dày - ruột lộ rõ (đại tiện máu tươi, đại tiện máu đen).

Được phát hiện do xét nghiệm tìm máu kín đáo trong phân hoặc thiếu máu do thiếu sắt ở người lớn mà không có nguồn mất máu nào cả.

Đánh giá ruột kết bằng nội soi ruột kết hoặc thụt barit là bắt buộc.

Đánh giá đường dạ dày - ruột trên bằng nội soi hoặc chụp X quang ruột loạt đường dạ dày - ruột trên với barit.

Cân nhắc chung

Xuất huyết dạ dày - ruột kín đáo là mất các khối lượng máu nhỏ theo đường dạ dày - ruột không lộ rõ cho bệnh nhân biết vì nó không đưa tới các dấu hiệu rõ ràng về đại tiện máu tươi, đại tiện máu đen hoặc nôn ra máu. Xuất huyết dạ dày - ruột kín đáo được phát hiện một cách điển hình ở một trong hai hoàn cảnh là: (1) test tìm máu kín đáo trong phân dương tính hoặc (2) thiếu máu do thiếu sắt xuất hiện ở người lớn.

Test tìm máu kín đáo trong phân

Nhiều bệnh nhân trên 50 tuổi được làm test thường lệ hàng năm các mẫu phân để tìm máu kín đáo nhằm kiểm tra các khối u ruột kết - trực tràng (xem kiểm tra ung thư ruột kết - trực tràng).

Gần 10% các bệnh nhân trong các chương trình kiểm tra sẽ có test máu kín đáo dương tính chứng tỏ sự cần thiết của điều tra về ruột kết để loại trừ ung thư biểu mô, Giá trị tiên đoán dương tính của test guaiac dương tính chỉ là 2 - 6%.

Thiếu máu do thiếu sắt

Ở xã hội phương Tây, nam giới và nữ giối sau mãn kinh bị thiếu máu do thiếu sắt phải được coi như là có chảy máu kín đáo đường dạ dày - ruột trừ phi một nguyên nhân thiếu máu khác là rõ ràng thấy được. Các nguyên nhân dinh dưỡng của thiếu sắt là không thông thường ở xã hội phương Tây. Khả năng các nguyên nhân dạ dày - ruột gây mất máu có thể xác định ở trên 60% các bệnh nhân thiếu sắt từ cả đường dạ dày - ruột trên và dưới. Ung thư ruột kết - trực tràng có ở 10%.

Các nguyên nhận mất máu kín đáo

Các nguyên nhân thông thường nhất gây chảy mặu dạ dày - ruột kín đáo tương tự với các nguyên nhân xuất huyết lộ rõ về mặt lâm sàng. Chúng bạo gồm:

Các khối u (các ung thư ruột kết - trực tràng và cạc polip ruột kết trực tràng, các ung thư dạ dày, các u lympho), (2) các nhiễm khuẩn (các loại giun, đặc biệt giun móc, bệnh amip, lao), (3) các bệnh mạch máu (giãn phình mạch, loạn sản mạch, bệnh dạ dày do tăng áp lực tĩnh mạch cửa); (4) các tổn thương acid - tiêu hóa (loét tiêu hóa, viêm thực quản trào ngược, thoát vị thực quản với các chỗ chầy xước, (5) các thuốc (nhất là các thuốc kháng viêm không phải steroid, aspirin hoặc thuốc chống đông máu), và (6) các nguyên nhân khác như bệnh ruột do viêm và các rối loạn kém hấp thu.

Đánh giá

Nội soi phần trên

Các bệnh nhân phải được hỏi về các triệu chứng như ợ nóng, khó tiêu, buồn nôn, nôn, sụt cân, no sớm, tiêu chảy, táo bón hoặc thay đổi thói quen đại tiện, ở các bệnh nhân dưới 50 tuổi với các triệu chứng rõ ràng liên quan với đường tiêu hóa trên, điều hợp lý tiến hành trước tiên với nội soi phần trên để tìm nguồn xuất huyết cấp tính hoặc mạn tính, ở các bệnh nhân không có triệu chứng với các test máu kín đáo trong phân dương tính mà các đánh giá ruột kết là âm tính thì không cần phải đánh giá đường dạ dày - ruột trên. Nếu có thiếu máu do thiếu sắt, các bệnh nhân phải trải qua nộị soi phần trên sau nội soi ruột kết. Nếu không có bất thường đáng kể thì phải làm sinh thiết ruột non trong khi làm nội soi để loại trừ bệnh tiêu chảy nhiệt đới (spru) và các rối loạn kém hấp thu khác.

Nội soi ruột kết so với thụt Baril

Ở hầu như tất cả các bệnh nhân có test máu kín đáo dương tính hoặc thiếu máu đo thiếu sắt, phải đánh giá ruột kết trước tiến hoặc bằng nội soi ruột kết hoặc bằng sự phối hợp thụt barit với nội soi đại tràng sigma (nội soi này cần để xem xét trực tràng và đại tràng sigma ở phần xa một cách đầy đủ). Nội soi ruột kết phát hiện trên 95% các polip hoặc ung thư ruột ket trực tràng, và các polip phát hiện được trong khi nội soi này được loại bỏ bằng thắt thòng lọng. Các thăm khám thụt barit chỉ có 85 - 90% độ nhậy đối với các polip ruột kết - trực tràng và đến 30 - 40% các bệnh nhân với test máu kín đáo dương tính sẽ được phát hiện có polip khi thụt barit hoặc nội soi đại tràng sigma, sau đó nội soi ruột kết để loại bỏ polip. Như vậy, mặc dầu nội soi ruột kết tốn kém hơn thụt barit, giá phí chung của hai chiến lược chẩn đoán là xấp xỉ như nhau. Giải pháp tốt nhất phụ thuộc vào kinh nghiệm chuyên môn tại chỗ và các giá phí (xem phần về các polip dạng u tuyến).

Đánh giá về ruột non

Đánh giá ruột non thường không cần thiết ở phần lớn các bệnh nhân, với test máu kín đáo ở phân dương tính hoặc thiếu máu do thiếu sắt, có đánh giá âm tính về ruột kết và đường dạ dày - ruột trên, ở các bệnh nhân với mất máu dạ dày - ruột mạn tính dai dẳng, cần phải đánh giá thêm về một nguồn mất máu ở ruột non. Một nghiên cứu nhỏ thành cản quang vào ruột là có ích để phát hiện các bệnh niêm mạc như là bệnh Crohn. Nội soi ruột non hiện nay luôn được làm ở nhiều trung tâm và cho phép nhìn thấy một phần ba tới một nửa ở phần trên của ruột non để tìm ra giãn mạch. Hiếm khi cần phải chụp mạch hoặc nội soi toàn bộ ruột non trong khi mổ.

Bài viết cùng chuyên mục

Táo bón

Các bệnh nhận mà táo bón không thể quy cho những nguyên nhân trên và không đáp ứng với việc xử lý bảo tồn vì ăn uống có thể đưa ra các vấn đề xử lý khó khăn

Hội chứng Mallory Weiss: vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Viêm túi thừa ruột kết

Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng nhẹ đến nỗi bệnh nhân không tìm đến sự chú ý về y tế cho đến nhiều ngày sau khi bị đau ở cung dưới trái, và một khối sờ thấy ở bụng.

Viêm thực quản nhiễm khuẩn

Các triệu chứng thông thường nhất là nuốt đau và khó nuốt. Đau ngực dưới xương ức xẩy ra ở một số bệnh nhân. Các bệnh nhân viêm thực quản do nấm candida đôi khi không có triệu chứng.

Túi thừa và các khối u lành tính thực quản

Các u lành tính của thực quản hoàn toàn hiếm. Chúng nằm dưới viêm mạc, và thường gặp nhất là u cơ trơn. Phần lớn không gây triệu chứng và được phát hiện tình cờ khi làm nội soi hoặc chụp thực quản với barit.

Bệnh loét tiêu hóa:

Ba nguyên nhân chủ yếu của bệnh loét tiêu hóa ngày nay được công nhận: các thuốc kháng viêm không steroid, nhiễm khuẩn H. pylori mạn tính, và các trạng thái tăng tiết acid như là hội chứng Zollinger - Ellison.

Nấc

Khi nguyên nhân vẫn còn chưa rõ, thử nghiệm thêm gồm chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và bụng, siêu âm tim, nội soi phế quản và nội soi phần trên đường dạ dày - ruột.

Chứng khó tiêu

Các triệu chứng của các bệnh nhân này có thể sinh ra do sự tương tác phức tạp của các nhân tố tâm lý, sự nhận thức đau nội tại bất thường và rối loạn di động dạ dày.

Vòng đai Schatzki và các mang thực quản

Các mang là các màng mỏng của niêm mạc vẩy xẩy ra một cách đặc trưng ở vùng giữa hoặc trên của thực quản. Chúng hiếm khi làm thành đường vòng tròn quanh chu vi.

Bệnh túi thừa ruột kết không biến chứng

Các túi thừa được nhìn thấy rõ nhất khi thụt barit. Các đoạn ruột kết tổn thương cũng bị hẹp và biến dạng. Nội soi ruột kết là phương tiện kém nhậy bén để phát hiện túi thừa.

Không giãn co thắt thực quản dưới

Các triệu chứng thường phát triển ở các bệnh nhân ở độ tuổi 25 và 60. Các bệnh nhân phàn nàn dần dần bắt đầu khó nuốt thức ăn đặc và, một số lớn, cả thức ăn lỏng nữa.

Hội chứng ruột kích ứng

Các rối loạn chức năng dạ dày ruột có đặc điểm là sự kết hợp khác nhau của các triệu chứng mạn tính hoặc tái phát không thề giải thích bằng các bất thường vê cấu trúc hoặc sinh hóa học.

Chít hẹp trực tràng hậu môn, mất tự chủ và ung thư biểu mô tế bào vảy hậu môn

Các u này thường hiếm, chỉ bao gồm 1 phần trăm tất cả ung thư hậu môn và ruột kết, xuất huyết, đau, nổi u tại chỗ là những dấu hiệu thông thường nhất

Giãn tĩnh mạch thực quản

Đếm máu toàn bộ, đếm tiểu cầu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin cục bộ, các test chức năng gan, các điện giải huyết thanh, và albumin huyết thanh phải được thực hiện cho mọi bệnh nhân.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương, Trong một số trạng thái bệnh đường ruột

Giãn phình mạch đường ruột

Phần lớn các giãn phình mạch ruột kết là các tổn thương thoái hóa được giả thiết, là sinh ra do co cứng cơ ruột kết mạn tính, làm tắc sự dẫn lưu tĩnh mạch niêm mạc.

Thiếu men disaccharidase: hội chứng kém hấp thu, bệnh niêm mạc ruột nguyên phát

Các bệnh cấp tính gian phát như là viêm ruột do vi khuẩn hoặc virus, đặc biệt ở trẻ em, sẽ thường gây tổn thương các vi nhung mao của các tế bào niêm mạc ruột non, dẫn đến thiếu lactase nhất thời.

Sa và loét trực tràng, nứt, áp xe và đường rò hậu môn

Áp xe quanh hậu môn phải được coi là giai đoạn cấp tính của một đường rò hậu môn cho đến khi được chứng tỏ là không phải như vậy. Áp xe phải được dẫn lưu đầy đủ ngay khi nó khu trú lại.

Viêm hốc tuyến và viêm nhú, nhiễm khuẩn trực tràng hậu môn

Viêm trực tràng ruột kết là tổn thương lan ra ngoài trực tràng, nó bao gồm ít nhất là tới đại tràng sigma, Các nguyên nhân có thể là các nguyên nhân của viêm trực tràng

Bệnh trĩ

Trĩ nội là các tĩnh mạch bị giãn ở phần đám rối tĩnh mạch trực tràng nằm dưới niêm mạc ngay ở phía gần bờ răng cưa, Trĩ ngoại cũng phát sinh từ đám rối này

Buồn nôn và nôn

Trong nôn cấp tính, chụp X quang bụng tư thế nằm và đứng được thực hiện cho các bệnh nhân đau dữ dội hoặc nghi là tắc ruột cơ học để tìm hơi trong khoang bụng hoặc các quai ruột non giãn to.

Viêm màng bụng cấp

Viêm màng bụng khu trú hoặc toàn bộ là biến chứng quan trọng nhất của rất nhiều rối loạn cấp tính vừng bụng. Nhiễm khuấn hoặc kích thích hóa học có thể gây ra viêm màng bụng.

Thủng ổ loét và ổ loét dạ dày tá tràng thâm nhập

Việc đóng lỗ thủng được thực hiện bằng một mành mạc nối. Trong nhiều trường hợp người ta thực hiện cắt dây phế vị ở phía gần của dạ dày để làm giảm khả năng tái phát ổ loét.

Đau ngực không rõ căn nguyên:

Bệnh này phải được xét đến ở bệnh nhân có mạch đồ của mạch vành bình thường khi làm các test chịu đựng có kết quả bất thường. Nhiều rối loạn khác như bệnh thấp, dạ dày - ruột và tâm thần có thể liên quan với hội chứng này.

Đánh giá các rối loạn thực quản

Các bệnh nhân bị tắc cơ giới cảm thấy khổ nuốt, chủ yếu là chất đặc. Điều này luôn tái phát, đoán trước được và nếu tổn thương tiến triển, sẽ xấu đi vì vòng thực quản hẹp lại.