Các u của ruột non

2016-11-24 08:32 PM

Các u lành tính có thể không có triệu chứng hoặc là sự phát hiện tình cờ khi phẫu thuật hoặc mổ xác. Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Các u lành và ác tính của ruột non là hiếm thấy. Có thể không có triệu chứng hoặc dấu hiệu nhưng có thể xẩy ra xuất huyết hoặc tắc (hoặc cả hai). Tắc thường do hoặc là lồng ruột với khối u ở đầu khối lồng hoặc là sự bít kín một phần hoặc hoàn toàn lòng ruột do sự tăng trưởng của khối u. Xuất huyết có thể gây ra yếu, mệt mỏi tăng, hơi chóng mặt, ngất, xanh tái, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, và phân hắc ín. Tác gây buồn nôn, nôn, và đau bụng. Bụng đau tăng khi sờ chạm, căng trướng, các tiếng ruột với thanh âm cao và rõ. Các tổn thương ác tính làm sụt cân và có những biểu hiện ngoài ruột (như đau do bao gan bị dãn căng, cơn đỏ bừng do ung thư biểu mô). Trong trường hợp ung thư biểu mô tá tràng có thể có hội chứng loét tiêu hóa. Hiếm khi sờ được khối u.

Nếu có xuất huyết, đại tiện phân máu đen và thiếu máu nhược sắc xẩy ra. X quang (loạt chụp ruột non, tốt nhất là có thụt rửa ruột) có thể cho thấy khối u và ruột non giãn to nếu có tác ruột. Khi không tắc ruột, việc xác minh khối u cực kỳ khó khăn.

Các u lành tính

Các u lành tính có thể không có triệu chứng hoặc là sự phát hiện tình cờ khi phẫu thuật hoặc mổ xác. Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ.

U tuyến lành chiếm 25% toàn bộ các u lành của ruột.

U mỡ thường xảy ra nhất ở hồi tràng; triệu chứng bộc lộ thường là tắc ruột do lồng ruột, u cơ trơn thường liên quan với xuất huyết và cũng gây lồng ruột, u mạch có tác động như các u nhỏ ở ruột khác nhưng có xu hướng xuất huyết nhiều hơn.

Bệnh đa polip ruột của đường dạ dày - ruột (bất kỳ ở mức nào) liên quan với nhiễm sắc tố da - niêm mạc (hội chứng Peutz - Jeghers) là một bệnh nhẹ. Đã có báo cáo về biến đổi ác tính nhưng hiếm và sự tồn tại của chúng chỉ trở thành một vấn đề với các biến chứng như là tắc và xuất huyết. Các polip là các u loạn sản phôi còn sắc tố là melanin. Sắc tố bộc lộ rõ rệt nhất ở trên môi và niêm mạc miệng.

Các u ác tính

Việc điều trị các u ác tính và các biến chứng của chúng thường là phẫu thuật.

Ung thư tuyến là ung thư thường gặp nhất của ruột non, xẩy ra nhiều nhất ở tá tràng và hỗng tràng. Các triệu chứng là do tắc hoặc xuất huyết. Tiên lượng xấu.

U lympho. Cũng biểu lộ lần đầu bằng tắc hoặc xuất huyết. Thủng ruột hoặc kém hấp thu cũng có thể xẩy ra. Chiếu xạ sau mổ đôi khi cũng có giá trị.

Sarcoma hay xẩy ra nhất ở giữa ruột non, và có thể biểu hiện lần đầu là khối u, tắc và xuất huyết. Tiên lượng dè dặt.

Các u carcinoid phát sinh từ các tế bào ưa bạc của đường dạ dày - ruột. 90% các u này xẩy ra ở ruột thừa, và 75% của phần còn lại xẩy ra ở ruột non (thường ở hồi tràng phía xa). Các u dạng ung thư có thể phát sinh ở các vị trí khác kể cả ở dạ dày, ruột kết, phế quản, tụy và buồng trứng. Phần lớn các u dạng ung thư ở ruột non không gây ra hội chứng dạng ung thư. Vấn đề chủ yếu là các di căn. Nói chung, hội chứng dạng ung thư chỉ xẩy ra với các u ác tính đã có di căn. U có thể tiết ra serotonin và bradykinin. Các biểu hiện toàn thân có thể gồm (1) cơn đỏ mặt bột phát và những triệu chứng vận mạch khác, (2) khó thở và thở khò khè, các đợt tái phát đau bụng và tiêu chảy, và (4) các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh van tim bêh phải. Chẩn đoán được xác nhận bằng tìm ra các mức độ cao của hydroxy - indoleacetic acid (một sản phẩm chuyển hóa của sercttonin) trong nước tiểu, u nguyên phát thường nhỏ và sự tắc ruột là không thường xẩy ra. Các di căn thường nhiều nhưng lành tính một cách đáng ngạc nhiên. Điều trị theo triệu chứng và hỗ trợ; có thể cần phải cắt bỏ u nếu bệnh được nhận ra trước khi có lan rộng các di căn. Đáp ứng với điều trị bằng các thuốc đối kháng serotonin tỏ ra không đều đặn.

Dùng nhiều lần nhác lại corticotropin hoặc các corticosteroid đôi khi có thể có giá trị. Tiên lượng chữa khỏi bệnh là xấu nhưng sống thêm dài hạn là không hiếm gặp.

Bài viết cùng chuyên mục

Các loại viêm dạ dày đặc trưng

Các ấu trùng của ký sinh vật Anisakis marina do ăn cá sống hoặc bánh gỏi cá rau có thể ăn sâu vào niêm mạc dạ dày và gây đau bụng nhiều. Đau dai dẳng trong vài ngày cho đến khi các ấu trùng chết.

Chứng khó tiêu

Các triệu chứng của các bệnh nhân này có thể sinh ra do sự tương tác phức tạp của các nhân tố tâm lý, sự nhận thức đau nội tại bất thường và rối loạn di động dạ dày.

Ung thư ruột kết (đại tràng) trực tràng

Một tiền sử về polip u tuyến làm tăng nguy cơ các u tuyến tiếp sau và ung thư biểu mô, do đó cần được giám sát nội soi ruột kết thường kỳ

Các tổn thương ác tính ở thực quản

Tổn thương thanh quản tái phát có thể làm khàn tiến. Khám thực thể thường không phát hiện gì. Sự có mặt của hạch lympho trên xương đòn hoặc cổ, hoặc của gan to chứng tỏ gián tiếp là bệnh đã di căn.

Sốt địa trung hải gia đình

Điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Chế độ ăn có ít mỡ có thể làm giảm số lần và độ nặng các cơn kịch phát. Cho hàng ngày uống colchicin 0,6 - 1,8 mg làm giảm rõ rệt số các cơn kịch phát.

Hội chứng Zollinger Ellison

Phải phân biệt hội chứng Zollinger - Ellison với các nguyên nhân khác gây tăng gastrin huyết. Viêm teo dạ dày với giảm tiết acid được phát hiện bằng phân tích dịch tiết của dạ dày.

Túi thừa và các khối u lành tính thực quản

Các u lành tính của thực quản hoàn toàn hiếm. Chúng nằm dưới viêm mạc, và thường gặp nhất là u cơ trơn. Phần lớn không gây triệu chứng và được phát hiện tình cờ khi làm nội soi hoặc chụp thực quản với barit.

Viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa gây ra do tắc ống ruột thừa bởi một sỏi phân, viêm, dị vật hoặc khối u ác tính. Tiếp theo tắc là nhiễm khuẩn, phù và thường xuyên là nhồi máu vách ruột thừa.

Vòng đai Schatzki và các mang thực quản

Các mang là các màng mỏng của niêm mạc vẩy xẩy ra một cách đặc trưng ở vùng giữa hoặc trên của thực quản. Chúng hiếm khi làm thành đường vòng tròn quanh chu vi.

Co thắt thực quản lan tỏa

Khó nuốt có thể do stress, khối thức ăn to, các chất lỏng nóng hoặc lạnh. Các bệnh nhân cũng có thể nhận thấy đau trước ngực, có thể lẫn với cơn đau thắt ngực nhưng thường không do gắng sức.

Viêm thực quản nhiễm khuẩn

Các triệu chứng thông thường nhất là nuốt đau và khó nuốt. Đau ngực dưới xương ức xẩy ra ở một số bệnh nhân. Các bệnh nhân viêm thực quản do nấm candida đôi khi không có triệu chứng.

Hội chứng Mallory Weiss: vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Giãn phình mạch đường ruột

Phần lớn các giãn phình mạch ruột kết là các tổn thương thoái hóa được giả thiết, là sinh ra do co cứng cơ ruột kết mạn tính, làm tắc sự dẫn lưu tĩnh mạch niêm mạc.

Viêm ruột kết loét

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào tình trạng thể tích dịch của bệnh nhân như xác định bằng huyết áp ở thể đứng, đếm mạch, và trạng thái dinh dưỡng.

Tắc đường ra của dạ dày

Các bệnh nhân có thể bị mất nước, nhiễm kiềm chuyển hóa và giảm kali huyết. Khi thăm khám lậm sàng, tiếng óc ách khi lắc bụng có thể nghe thấy ở vùng thượng vị.

Viêm dạ dày không ăn mòn không đặc trưng

Chẩn đoán viêm dạ dày mạn tính dựa trên lượng giá mô học các sinh thiết niêm mạc, Các phát hiện nội soi trong nhiều trường hợp là bình thường

Sa và loét trực tràng, nứt, áp xe và đường rò hậu môn

Áp xe quanh hậu môn phải được coi là giai đoạn cấp tính của một đường rò hậu môn cho đến khi được chứng tỏ là không phải như vậy. Áp xe phải được dẫn lưu đầy đủ ngay khi nó khu trú lại.

Thiếu men disaccharidase: hội chứng kém hấp thu, bệnh niêm mạc ruột nguyên phát

Các bệnh cấp tính gian phát như là viêm ruột do vi khuẩn hoặc virus, đặc biệt ở trẻ em, sẽ thường gây tổn thương các vi nhung mao của các tế bào niêm mạc ruột non, dẫn đến thiếu lactase nhất thời.

Các khối u dạ dày

Ung thư biểu mô dạ dày thường không có triệu chứng, cho đến khi bệnh đã tiến triển, các triệu chứng không đặc trưng và được xác định do vị trí của khối u.

Thủng ổ loét và ổ loét dạ dày tá tràng thâm nhập

Việc đóng lỗ thủng được thực hiện bằng một mành mạc nối. Trong nhiều trường hợp người ta thực hiện cắt dây phế vị ở phía gần của dạ dày để làm giảm khả năng tái phát ổ loét.

Tiêu chảy cấp tính

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Giãn tĩnh mạch thực quản

Đếm máu toàn bộ, đếm tiểu cầu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin cục bộ, các test chức năng gan, các điện giải huyết thanh, và albumin huyết thanh phải được thực hiện cho mọi bệnh nhân.

Bệnh viêm ruột

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Bệnh túi thừa ruột kết không biến chứng

Các túi thừa được nhìn thấy rõ nhất khi thụt barit. Các đoạn ruột kết tổn thương cũng bị hẹp và biến dạng. Nội soi ruột kết là phương tiện kém nhậy bén để phát hiện túi thừa.

Các hội chứng polip đường ruột mang tính chất gia đình

Bệnh polip u tuyến trong gia đình là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường mang tính trội, đưa đến sự phát triển hàng trăm tới hàng nghìn u tuyến ở ruột kết.