Không giãn co thắt thực quản dưới

2016-11-22 04:59 PM

Các triệu chứng thường phát triển ở các bệnh nhân ở độ tuổi 25 và 60. Các bệnh nhân phàn nàn dần dần bắt đầu khó nuốt thức ăn đặc và, một số lớn, cả thức ăn lỏng nữa.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Các yếu tố thiết yếu trong chẩn đoán

Khó nuốt chất đặc và chất lỏng tiến triển từ từ.

Ợ ra thức ăn không tiêu.

Chụp X quang thực quản với barit có phần xa của thực quản hình "mỏ chim".

Đo áp lực thực quản xác định chẩn đoán.

Các nhận định chung

Không giãn cơ thắt thực quản là một rối loạn tự phát tính di động thực quản, có đặc điểm là mất nhu động ở hai phần ba xa (cơ trơn) của thực quản và sự giãn cơ thắt thực quản dưới bị tổn hại. Hình như nguyên nhân là thiếu phân bố thần kinh ở thực quản do mất các tế bào hạch trong đám rối thần kinh Auerbach và thoái hóa dây thần kinh phế vị và nhân vận động lưng.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng thường phát triển ở các bệnh nhân ở độ tuổi 25 và 60. Các bệnh nhân phàn nàn dần dần bắt đầu khó nuốt thức ăn đặc và, một số lớn, cả thức ăn lỏng nữa. Các triệu chứng xuất hiện có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm. Sự khó chịu hay cảm giác đầy sau xương ức có thể thấy sau khi ăn. Nhiều bệnh nhân ăn chậm hơn và thực hiện các thao tác riêng như là ngửa cổ và đưa vai ra sau để làm thức ăn qua hết thực quản, ợ thức ăn không tiêu là thường xẩy ra và có thể ngay trong bữa ăn hoặc nhiều giờ sau ăn. Ợ thức ăn ban đêm có thể gây ra ho hoặc hít phải. Sụt cân thường xẩy ra. Thăm khám thực thể không giúp ích gì.

Ghi hình ảnh

Chụp X quang lồng ngực có thể cho thấy một mức nước hơi trong thực quản giãn to chứa đầy chất lỏng. Chụp X quang với barit có những phát hiện đặc trưng bao gồm giãn to thực quản, mất nhu động thực quản, thực quản không chuyển hết thức ăn, và một phần xa thon nhỏ đều đối xứng hình "mỏ chim" của thực quản. Nếu không điều trị, thực quản có thể giãn to rõ rệt. ("thực qụản dạng sigma")

Các thăm khám đặc biệt

Sau khi chụp X quang thực quản, nội soi luồn được thực hiện để đánh giá phần xa của thực quản và chỗ nối thực quản - dạ dày nhằm loại trừ chít hẹp ở phần xa hoặc ung thư biểu mô thâm nhập dưới niêm mạc. Các đặc điểm đo áp lực điển hình là (1) hoàn toàn không có nhu động; việc nuốt đưa đến các làn sóng đồng thời có biên độ thấp; (2) giãn không đầy đủ của cơ thắt thực quản dưới khi nuốt. Trong khi cơ thắt thực quản bình thường ở tư thế giãn khi nuốt là hơn 90%, cơ thắt giãn trong chứng không giãn cơ thắt thực quản chỉ giãn dưới 50% khi bệnh nhân nuốt thức ăn trong phần lớn các trường hợp. Ở nhiều bệnh nhân, áp lực cơ thắt thực quản dưới, có mức áp lực nền khá cao; (3) Các áp lực nội thực quản lớn hơn các áp lực dạ dày do thực quản chứa đầy thức ăn hay chất lỏng.

Chẩn đoán phân biệt

Các u nguyên phát hoặc di căn có thể xâm nhập chỗ nối thực quản - dạ dày, đưa đến hình ảnh giống như không giãn cơ thắt thực quản gọi là "không giãn cơ thắt thực quản giả" có thể cần phải ghi siêu âm, nội soi và chụp cát lớp vi tính nội soi để thăm khám phần xa của thực quản trong các trường hợp nghi ngờ. Không giãn cơ thắt thực quản có thể phân biệt với các rối loạn tính di động khác như co thắt lan tỏa và thực quản xơ cứng bì với chít hẹp do loét tiêu hóa.

Điều trị

Điều trị bằng thuốc

Có thể làm giảm áp lực co thắt thực quản dưới bàng thuốc, bằng các thuốc chặn kênh calci. Nifedipin, 10 - 20 mg đặt dưới lưỡi 30 phút trước bữa ăn làm tình trạng tốt lên nhiều trong thời hạn ngắn ở một số bệnh nhân có các triệu chứng nhẹ và thực quản không giãn to. Dược liệu pháp cũng dùng cho các bệnh nhân có những vấn đề y học nghiêm trọng mà các liệu pháp khác được coi là nguy hiểm.

Nong hơi

Nong hơi là phương pháp điều trị ban đầu được nhiều bệnh nhân ưa chuộng. Nhờ sự hướng dẫn soi huỳnh quang, các quả bóng độ lớn từ 3 - 4 cm đươc đặt ngang qua cơ thắt thực quản dưới với ý định làm vỡ cơ thắt. 60% đến 75% các bệnh nhân nhận thấy giảm mức tốt đến rất tốt chứng khó nuốt. Thủng có thể xảy ra ở 6% các lần nong, cần can thiệp phẫu thuật.

Thủ thuật rạch cơ

Điều trị ngoại khoa thường dành cho các bệnh nhân đã không đạt kết quả với nong hơi. Thủ thuật rạch cơ Heller trong cơ thắt thực quản dưới đưa đến kết quả là làm giảm triệu chứng rất tốt ở hơn 85% số bệnh nhân. Mặc dù có hiệu quả cao, điều trị này đòi hỏi mở thành bụng hoặc mở lồng ngực. Dòng trào ngược thực quản - dạ dày có thể gây rắc rối cho việc rạch cơ sau này. Một số trung tâm thực hiện rạch cơ qua ống soi lồng ngực và đang báo cáo các kết quả rất tốt. Phẫu thuật qua ống soi lồng ngực là xâm nhập tối thiểu và làm giảm rõ rệt thời gian hồi phục sau mổ từ 2 - 3 tuần xuống còn 2 - 3 ngày.

Tiên lượng

Nếu tiến hành điều trị trước khi giãn thực quản rõ rệt phát triển, việc nuốt trở lại gần như bình thường ở phần lớn các bệnh nhân. Tỷ lệ bị ung thư biểu mô tế bào vảy của thực quản tăng lên trong không giãn cơ thắt thực quản ở phần lớn các bệnh nhân, bất kể điều trị như thế nào.

Bài viết cùng chuyên mục

Nấc

Khi nguyên nhân vẫn còn chưa rõ, thử nghiệm thêm gồm chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và bụng, siêu âm tim, nội soi phế quản và nội soi phần trên đường dạ dày - ruột.

Hội chứng ruột kích ứng

Các rối loạn chức năng dạ dày ruột có đặc điểm là sự kết hợp khác nhau của các triệu chứng mạn tính hoặc tái phát không thề giải thích bằng các bất thường vê cấu trúc hoặc sinh hóa học.

Xuất huyết cấp tính đường dạ dày ruột dưới

Một số thể bệnh có thể gây xuất huyết đường tiêu hóa dưới. Khả năng xẩy ra các tổn thương này một phần phụ thuộc cả vào tuổi bệnh nhân lẫn bản chất và độ nặng của xuất huyết.

Tiêu chảy mạn tính

Một khoảng trống thẩm thấu xác nhận tiêu chảy thẩm thấu. Độ thẩm thấu phân thấp hơn độ thẩm thấu huyết thanh gợi ý rằng nước hoặc nước tiểu đã được cộng thêm vào mẫu (tiêu chảy giả tạo).

Xuất huyết dạ dày tá tràng

Hematocrit có thể hạ thấp do hậu quả chảy máu hoặc sự truyền bù thể tích nội mạch vào tĩnh mạch. Cân bằng nitơ urê huyết có thể lên cao do hậu quả hấp thu nitơ máu từ ruột non và tăng urê huyết trước thận.

Tắc đường ra của dạ dày

Các bệnh nhân có thể bị mất nước, nhiễm kiềm chuyển hóa và giảm kali huyết. Khi thăm khám lậm sàng, tiếng óc ách khi lắc bụng có thể nghe thấy ở vùng thượng vị.

Bệnh Crohn

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào thân nhiệt của bệnh nhân, cân nặng, trạng thái dinh dưỡng, tăng cảm giác đau khi sờ chạm và nổi khối ở bụng, thăm khám trực tràng và những biểu hiện bên ngoài ruột.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương, Trong một số trạng thái bệnh đường ruột

Sốt địa trung hải gia đình

Điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Chế độ ăn có ít mỡ có thể làm giảm số lần và độ nặng các cơn kịch phát. Cho hàng ngày uống colchicin 0,6 - 1,8 mg làm giảm rõ rệt số các cơn kịch phát.

Táo bón

Các bệnh nhận mà táo bón không thể quy cho những nguyên nhân trên và không đáp ứng với việc xử lý bảo tồn vì ăn uống có thể đưa ra các vấn đề xử lý khó khăn

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là thuật ngữ dùng cho các triệu chứng hoặc tổn hại các mô do dòng trào ngược các dung lượng dạ dày (thường là acid) đi vào thực quản gây ra.

Thủng ổ loét và ổ loét dạ dày tá tràng thâm nhập

Việc đóng lỗ thủng được thực hiện bằng một mành mạc nối. Trong nhiều trường hợp người ta thực hiện cắt dây phế vị ở phía gần của dạ dày để làm giảm khả năng tái phát ổ loét.

Bệnh túi thừa ruột kết không biến chứng

Các túi thừa được nhìn thấy rõ nhất khi thụt barit. Các đoạn ruột kết tổn thương cũng bị hẹp và biến dạng. Nội soi ruột kết là phương tiện kém nhậy bén để phát hiện túi thừa.

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính có thể từ nhiều nguồn gốc. Các nguồn này được liệt kê dưới đây theo thứ tự số lần chúng gây ra xuất huyết đáng kể.

Các khối u dạ dày

Ung thư biểu mô dạ dày thường không có triệu chứng, cho đến khi bệnh đã tiến triển, các triệu chứng không đặc trưng và được xác định do vị trí của khối u.

Chảy máu túi thừa ruột kết

Ở bệnh nhân bị xuất hụyết hoạt động, việc đánh giá cấp cứu hoặc chụp quét hống cầu đánh dấu chất phóng xạ 99mTc hoặc chụp mạch mạc treo phải được thực hiện.

Tiêu chảy cấp tính

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Ung thư ruột kết (đại tràng) trực tràng

Một tiền sử về polip u tuyến làm tăng nguy cơ các u tuyến tiếp sau và ung thư biểu mô, do đó cần được giám sát nội soi ruột kết thường kỳ

Bệnh viêm ruột

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Các hội chứng polip đường ruột mang tính chất gia đình

Bệnh polip u tuyến trong gia đình là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường mang tính trội, đưa đến sự phát triển hàng trăm tới hàng nghìn u tuyến ở ruột kết.

Viêm túi thừa Meckel

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh giống viêm ruột thừa cấp và tắc ruột cấp tính do viêm tụi thừa Meckel gây nên không thể phân biệt nổi với các quá trình nguyên phát trừ phi bằng cách thăm dò.

Viêm dạ dày ăn mòn hoặc xuất huyết

Viêm dạ dày ăn mòn thường không có triệu chứng. Khi chúng xuất hiện, các triệu chứng gồm chán ăn, buồn nôn, nôn và đau thượng vị. Có ít tương quan giữa các triệu chứng này với các bất thường thấy ở nội soi.

Hơi dạ dày ruột

Các trạng thái lo âu thường liên kết với thở sâu và thở dài, do đó nuốt vào một lượng không khí lớn. Việc nhai kẹo cao su góp phần vào việc nuốt hơi.

Viêm thực quản nhiễm khuẩn

Các triệu chứng thông thường nhất là nuốt đau và khó nuốt. Đau ngực dưới xương ức xẩy ra ở một số bệnh nhân. Các bệnh nhân viêm thực quản do nấm candida đôi khi không có triệu chứng.

Túi thừa và các khối u lành tính thực quản

Các u lành tính của thực quản hoàn toàn hiếm. Chúng nằm dưới viêm mạc, và thường gặp nhất là u cơ trơn. Phần lớn không gây triệu chứng và được phát hiện tình cờ khi làm nội soi hoặc chụp thực quản với barit.