- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh da và phần phụ
- Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính
Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính
Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Các điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Ngứa kéo dài kết hợp với thương tổn liken hóa.
Thương tổn liken hóa biểu hiện là mảng da dầy, có vảy, ranh giới rõ và các nếp da trên thương tổn rõ hơn.
Vị trí hay gặp ở phía sau của cổ, cổ tay, mặt duỗi của cánh tay, mặt trong của đùi, cổ chân, kheo và vùng trước xương trụ.
Đánh giá chung
Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa - gãi - tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân. Có quá sản các sợi dây thần kinh thương tổn liken hóa, dày lên nếu các tổn thương lâu, nhưng người ta không biết liệu đây là điều quan tâm của sinh lý bệnh hay không. Nếu tổn thương tồn tại rất lâu, bệnh nhân có thể bị suy nhược hoặc có những triệu chứng tâm thần khác.
Lâm sàng
Ngứa từng cơn đã kích động bệnh nhân dùng tay gãi thương tổn. Ngứa có thể dữ dội đến nỗi gây mất ngủ cho bệnh. Thương tổn là mảng da khô, dày, liken hóa khu trú ở cổ, cổ tay, vùng đáy chậu, đùi, hoặc hầu hết mọi nơi. Mảng thương tổn hình đa giác, có bờ rõ, rất dày và nhiễm sắc tố. Các đường vân của da hằn sâu xuống và chia thương tổn thành hình đa giác.
Chẩn đoán phân biệt
Viêm da thần kinh cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh da có vảy như bệnh vảy nến, là một bệnh biểu hiện thông thường bằng dát đỏ hơn và trên có vảy dày, trắng ở khủyu tay, đầu gối, da đầu và móng. Bệnh liken phẳng biểu hiện bằng những sẩn nhỏ, hình đa giác, màu tím. Bệnh chàm đồng tiền. Giải phẫu bệnh có thể giúp chẩn đoán phân biêt các bênh trên khi cần, nhưng tất cả đều đáp ứng với thuốc bôi steroid.
Điều trị
Thuốc bôi corticosteroid có tác dụng làm bệnh thuyên giảm. Clobetason, halobetasol, diílorason và betamethason dipropionat trong tá dược tăng quá mức rất có tác dụng, không cần thiết phải băng bịt, bôi 2 lần/ngày, ít nhất vài tuần. Loại steroid nồng độ cực cao là loại thuốc được chọn để điều trị nhưng phải theo dõi rất cẩn thận để tránh tác dụng phụ tại chỗ cũng như toàn thân. Thuốc tiêm triamcinolon acetonid 5 - 10mg/ml tiêm vào thương tổn có thể chữa khỏi.
Dùng nhựa hắc ín như LCD 10% (hắc ín than đá, liquor carbonis detergens, fototar) trong mỡ triamcinolon 1% hoặc arthralin, hoặc băng bịt liên tục với DuoDerm trong 7 ngày, 1 - 2 tháng làm một lần cũng có tác dụng. Gel hắc ín dùng một mình hoặc kết hợp với steroid. Bệnh ít khi tự khỏi. Vùng tổn thương nên được bảo vệ và bệnh nhân cũng cần biết tác hại của gãi, của stress, và sang chấn về tinh thần đều là những tác nhân gây ngứa.
Tiên lượng
Bệnh có xu hướng đỡ khi được điều trị, nhưng rồi sẽ tái phát ở vị trí khác.
Bài viết cùng chuyên mục
Chẩn đoán các bệnh lý da
Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.
Ung thư tế bào đáy
Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.
Viêm nang lông
Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.
Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da
Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.
Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.
Hồng ban nút
Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.
Chốc: thương tổn ướt có vảy
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.
Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị
Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.
Ung thư sắc tố
Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.
Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.
Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh
Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.
Nhiễm nấm ở da
Nói chung, chỉ điều trị sau khi đã có chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy nấm, đặc biệt khi dùng thuốc chống nấm toàn thân.
Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.
Trứng cá đỏ
Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.
Bệnh nấm candida da và niêm mạc
Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.
Viêm da do ánh nắng
Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.
Bệnh chấy rận
Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Ngứa: chẩn đoán và điều trị
Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.
Chai chân: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bao gồm sửa lại cho đúng các bất thường cơ học gây ra ma xát và tỳ đè. Phải đi giày vừa và điều chỉnh lại các biến dạng chỉnh hình.
Loét cẳng chân thứ phát sau thiểu năng tĩnh mạch
Bệnh nhân thường có một tiền sử lâu dài bị thiểu năng tĩnh mạch. Viêm da thường xuất hiện sau phù nề mạn tính, và thường rất ngứa.
U mềm lây: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.
Rối loạn sắc tố da
Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.
Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.
Bệnh dày sừng do ánh nắng
Phương pháp điều trị nhanh và có hiệu qủa là dùng nitơ lỏng. Thương tổn bị đông lạnh sau vài giây khi dùng tăm bông nhúng trong nitơ lỏng hoặc bằng phương pháp phun.
Bệnh vảy nến
Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.
