- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh da và phần phụ
- Tổ đỉa: chẩn đoán và điều trị
Tổ đỉa: chẩn đoán và điều trị
Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Mụn nước 1 - 2mm dạng "bột sắn" ở lòng bàn tay, bàn chân và cạnh các ngón tay, kết hợp với ngứa.
Các mụn nước có thể liên kết với nhau thành đám bọng nước.
Đóng vảy và nứt nẻ xuất hiện sau khi bọng nước khô.
Hay gặp ở những người lứa tuổi 30, và bệnh tái phát phát suốt cuộc đời.
Đánh giá chung
Chàm do rối loạn bài tiết mồ hôi "Dyshidrotic Eczema" là một thuật ngữ dùng sai, từ này gợi cho chúng ta nghĩ tới một bệnh liên quan tới bệnh của ống và tuyến mồ hôi. Đây là một bệnh rất hay gặp ở tay, tiếng Anh thường gọi là Pompholyx (nổi bong bóng) hoặc viêm da mụn nước ở lòng bàn tay và bàn chân. Bệnh nhân thường có một cơ địa bệnh dị ứng và bệnh thường phát ra khi có stress. Ở Scandinavia, phụ nữ thường phát bệnh tổ đỉa khi có dị ứng với nickel như tiếp xúc hoặc uống. Kiêng không dùng nickel cho ta những kết quả tốt. Trong một nghiên cứu người ta thấy 25% bệnh nhân tiến triển tốt khi dùng disulfiram, và uống thuốc cromolyn sodium cũng đưa kết quả có giá trị. Một vài bệnh nhân khi điều trị bằng thuốc uống Urushiol, là một loại kháng nguyên của cây thường xuân và cây sồi, để gây dung nạp cũng bị các thương tổn giống tổ đỉa. Vì vậy, điều này gợi cho ta thấy bệnh tổ đìa là biểu hiện của một thể nào đó của bệnh quá nhạy cảm hoặc dị ứng.
Lâm sàng
Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa. Giai đoạn cuối, các mụn nước khô và trở thành vảy và nứt nẻ.
Chẩn đoán phân biệt
Cạo nấm ở nền của các mụn nước không còn nóc và sẽ thấy các sợi nấm trong trường hợp mụn nước do nấm. Rất hiếm khi thấy các mụn nước lan ra mu bàn tay, vì đây là biểu hiện thực sự của một viêm da tiếp xúc dị ứng, và tác nhân gây bệnh cần phải được tìm ra bằng tiền sử bệnh và test áp. Bệnh nhân bị nấm ở tay có thể có mụn nước ban nấm da ở lòng bàn tay, nhưng điều này thường ít xảy ra. Rất hiếm bệnh nhân nhiễm HIV lại có thương tổn herpes simplex ở lòng bàn tay mà những thương tổn này có thể nhầm với từng đám mụn nước của tổ đỉa.
Phòng bệnh
Người ta không biết làm thế nào để phòng được bệnh.
Điều trị
Tổ đỉa thường ít nhạy cảm với steroid, mặc dù vậy, thuốc corticosteroid bôi và dạng uống cũng đã có tác dụng ở một số bệnh nhân, vì đây là một bệnh mạn tính, corticosteroid toàn thân thường không phải là thuốc điều trị duy nhất. Dùng thuốc bôi steroid loại mạnh ở giai đoạn sớm của bệnh có thể có giá trị làm giảm phát triển và cải thiện được triệu chứng ngứa. Thuốc bôi steroid cũng có tác dụng lớn trong điều trị thương tổn vảy và nứt nẻ là những thương tổn sau thương tổn mụn nước. Điều cần thiết là bệnh nhân cần tránh tất cả những cái gì mà gây kích thích da, bệnh nhân nên đi găng bằng vải bông phía trong rồi mới đi găng ni lông hoặc nhựa khi làm các việc vặt hay khi rửa bát, dùng các loại bàn chải có cán dài thay thế các mút, phải bôi kem sau khi làm xong các việc đó. Nếu trong tiền sử có dị ứng với niken (phát ban khi dùng các đồ nữ trang giả hoặc khi đeo đồng hồ), có thể điều trị bằng disulfiram ở những bệnh nhân không dị ứng với thiurams, và dùng thuốc uống croniolyn. Ăn kiêng nickel nên được áp dụng và là phương kế điều trị cuối cùng. Bệnh nhân có thể đáp ứng điều trị với PUVA, dùng, psoralen bôi và chiếu UVA hoặc UVA đơn thuần chiếu vào tay và chân.
Tiên lượng
Đối với hầu hết bệnh nhân, đây là một bệnh gây phiền hà. Thậm chí cả thể trung bình và cả thể nặng, cần tránh phát bệnh bằng cách chăm sóc thận trọng và tỉ mì. Đối với một số bệnh nhân có thể không còn khả năng chữa trị.
Bài viết cùng chuyên mục
Liken phẳng: chẩn đoán và điều trị
Một dạng đặc biệt của liken phẳng là các dạng trợt. Trên lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân nó có thể làm mất khả năng hoạt động.
Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.
Nhọt và nhọt độc
Có nổi bật lên cảm giác đau và nhậy cảm, và với nhọt độc thì dữ dội hơn nhọt thường. Áp xe nang lông hoặc là tròn hoặc là hình nón.
Chốc: thương tổn ướt có vảy
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.
Viêm nang lông
Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.
Nấm tay và chân
Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.
Một số bệnh da có bọng nước
Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.
Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da
Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.
Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt
Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.
Nhiễm nấm ở da
Nói chung, chỉ điều trị sau khi đã có chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy nấm, đặc biệt khi dùng thuốc chống nấm toàn thân.
Rôm ban nhiệt
Sử dụng những chế phẩm kháng sinh như chlorhexidin trước khi tiếp xúc với nóng ẩm có thể tránh được rôm. Những người dễ bị rôm nên tránh tiếp xúc với môi trường nóng ẩm.
Bệnh vảy nến
Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.
Hồng ban nút
Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.
Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.
Ngứa: chẩn đoán và điều trị
Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.
Loét da do tỳ đè
Nếu vết loét lan rộng rất nhanh có thể là loét của viêm da mủ hoại tử kết hợp với bệnh viêm đường ruột.
Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị
Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.
Trứng cá đỏ
Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.
Chẩn đoán các bệnh lý da
Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.
Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị
Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.
Bệnh dày sừng do ánh nắng
Phương pháp điều trị nhanh và có hiệu qủa là dùng nitơ lỏng. Thương tổn bị đông lạnh sau vài giây khi dùng tăm bông nhúng trong nitơ lỏng hoặc bằng phương pháp phun.
Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.
Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.
Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.
Vảy phấn hồng Gibert
Các thương tổn cổ điển của vảy phấn hồng Gibert không có biểu hiện như vậy. Lang ben, phát ban do virus, và dị ứng thuốc có thể giống vảy phấn hồng Gibert.
