- Trang chủ
- Phác đồ - Test
- Nguyên lý y học nội khoa
- Thiếu máu: nguyên lý nội khoa
Thiếu máu: nguyên lý nội khoa
Tiếp cận chẩn đoán theo phương diện sinh lý dựa vào sự hiểu biết về tình trạng giảm hồng cầu trong hệ tuần hoàn có liên quan đến tình trạng sản xuất không đủ hồng cầu.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Theo tiêu chuẩn của WHO, thiếu máu được định nghĩa là nồng độ hemoglobin máu (Hb) < 130 g/L (< 13 g/dL) hoặc hematocrit (Hct) < 39% ở nam trưởng thành; Hb < 120 g/L (< 12 g/dL) hoặc Hct < 37% ở nữ trưởng thành.
Dấu hiệu và triệu chứng của thiếu máu rất đa dạng, tuỳ thuộc vào mức độ thiếu máu và thời gian thiếu máu tiến triển. Thiếu máu cấp gần như luôn luôn là do mất máu hoặc tán huyết. Trong mất máu cấp, giảm thể tích chiếm ưu thế trên bức tranh lâm sàng; hạ huyết áp và giảm tưới máu cơ quan là những vấn đề chính. Các triệu chứng liên quan đến tình trạng mạn tính thay đổi theo tuổi và lượng máu cung cấp đến các cơ quan quan trọng.
Thiếu máu trung bình có liên quan đến mệt mỏi, thể lực yếu, khó thở và nhịp tim nhanh. Da và niêm bệnh nhân thường xanh xao. Nếu các nếp nhăn của lòng bàn tay sáng màu hơn vùng da xung quanh với các ngón tay mở rộng, nồng độ Hb thường < 80 g/L (8 g/dL). Ở bệnh nhân có bệnh mạch vành, các cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện hoặc tăng dần về tần suất và độ nặng. Ở bệnh nhân có bệnh ở động mạch cảnh, thường có choáng váng.
Tiếp cận chẩn đoán theo phương diện sinh lý dựa vào sự hiểu biết về tình trạng giảm hồng cầu trong hệ tuần hoàn có liên quan đến tình trạng sản xuất không đủ hồng cầu hoặc tăng phá huỷ hồng cầu hay mất máu. Trong nhóm sản xuất không đủ, sự tạo hồng cầu có thể không hiệu quả, do khiếm khuyết quá trình trưởng thành hồng cầu (thường dẫn đến hồng cầu quá nhỏ hoặc quá to), hoặc giảm tăng sinh (hồng cầu có kích thước bình thường nhưng số lượng quá ít).

Hình. Phân loại thiếu máu theo sinh lý.
Đánh giá cơ bản gồm (1) chỉ số hồng cầu lưới (RI), và (2) phết máu và các chỉ số hồng cầu [chủ yếu là thể tích trong bình hồng cầu (MCV)] (hình).
RI là phép đo của sự sản xuất hồng cầu. Số hồng cầu lưới được hiệu chỉnh theo nồng độ Hct và sự giải phóng sớm hồng cầu lưới từ tuỷ xương vào tuần hoàn, điều này làm tăng tuổi thọ của hồng cầu lưới trong tuần hoàn hơn 1 ngày so với lệ thường. Vì vậy, RI = (% hồng cầu lưới × Hct/45%) × (1/hệ số chuyển dịch). Hệ số chuyển dịch thay đổi theo Hct: 1.5 khi Hct = 35%, 2 khi Hct = 25%, 2.5 khi Hct = 15%. RI < 2–2.5% gợi ý sản xuất hồng cầu không đủ; RI > 2.5% gợi ý tăng phá huỷ hồng cầu quá mức hoặc mất máu.
Nếu thiếu máu có liên quan đến giảm hồng cầu lưới, hình dạng hồng cầu giúp phân biệt các rối loạn trường thành do tình trạng giảm tăng sinh tuỷ. Khiếm khuyết trưởng thành bào tương như thiếu sắt hoặc các vấn đề của tổng hợp Hb tạo ra các hồng cầu nhỏ, MCV < 80; khiếm khuyết trưởng thành nhân tế bào như thiếu B12 và folate và do tác động của thuốc tạo ra các hồng cầu lớn, MCV >100. Trong tình trạng giảm tăng sinh tuỷ, hồng cầu thường có hình dạng bình thường nhưng được sản xuất quá ít. Kiểm tra tuỷ xương thường hữu ích để đánh giá thiếu máu nhưng thường được sử dụng nhiều nhất để chẩn đoán tình trạng giảm tăng sinh tuỷ.
Các xét nghiệm khác được chỉ định để đánh giá các dạng thiếu máu đặc biệt tuỳ thuộc vào phân loại ban đầu dựa trên sinh lý bệnh của khiếm khuyết bệnh lý.
Bài viết cùng chuyên mục
Khám tâm thần
Ký ức xa hơn được đánh giá bằng khả năng cung cấp bệnh sử hay hoạt động sống cá nhân của bệnh nhân theo trình tự thời gian.
Huyết khối tăng đông
Trong bệnh viện thường bắt đầu điều trị chống đông bằng heparin trong 4 đến 10 ngày, duy trì tiếp warfarin sau khi dùng đồng thời 3 ngày. Thời gian điều trị phụ thuộc vào bệnh nền.
Ung thư buồng trứng: nguyên lý nội khoa
Không giống như ung thư đại tràng, con đường dẫn đến ung thư buồng trứng là không rõ ràng. Ung thư buồng trứng cũng có thể xảy ra trong hội chứng Lynch.
Các loại tác nhân hóa trị ung thư và độc tính chủ yếu
Trong khi tác dụng của hóa chất điều trị ung thư tác động chủ yếu lên quần thể tế bào ác tính, hầu hết các phác đồ đang dùng hiện nay cũng có tác động mạnh mẽ đến các mô bình thường.
Thiếu máu do tăng phá hủy hồng cầu và chảy máu cấp
Tương tự, các nguyên nhân mắc phải có mối liên hệ với các yếu tố ngoài hồng cầu vì hầu hết các yếu tố này là ngoại sinh. Trường hợp ngoại lệ là hồng cầu tan máu ure máu có tính gia đình.
Rối loạn thông khí tăng giảm: nguyên lý nội khoa
Thông khí áp lực dương không xâm nhập trong khi ngủ, mang lại sự hỗ trợ về thông khí, và điều trị ngưng thở khi ngủ, do các bệnh thần kinh cơ.
Ngộ độc và quá liều thuốc
Carbon monoxid là nguyên nhân hàng đầu gây chết do ngộ độc. Ngộ độc Acetaminophen là thuốc phổ biến nhất gây tử vong. Tử vong do các thuốc khác thường do thuốc giảm đau.
Lách to: nguyên lý nội khoa
Dòng máu chảy qua lách cho phép lọc được mầm bệnh từ máu và duy trì việc kiểm soát chất lượng hồng cầu-chúng bị phá huỷ khi già và không biến dạng, và các thể vùi nội bào.
Hội chứng rối loạn sinh tủy: nguyên lý nội khoa
Đặc điểm bệnh lý của MDS là tủy bào với các mức độ tế bào học không điển hình thay đổi gồm nhân chậm trưởng thành, tế bào chất trưởng thành bất thường.
Bệnh lắng đọng canxi pyrophosphat dihydrat (CPPD): bệnh giả gout
Các tinh thể được cho rằng không hình thành từ dịch khớp mà có thể rơi từ sụn khớp vào trong khe khớp, nơi chúng bị thực bào bởi các bạch cầu đa nhân trung tính.
Một số bệnh rối loạn xương
Điều trị bệnh lý nền đường ruột, NSAIDs có thể làm giảm các triệu chứng ở khớp nhưng có thể làm bùng phát bệnh đường ruột.
Loét dạ dày tá tràng (PUD): nguyên lý nội khoa
Hàng rào niêm mạch tá tràng bị xâm nhập bởi các tác động động hại của H, pylori ở vùng chuyển tiếp dạ dày, nguyên nhân do tăng tiết acid dịch vị hoặc hội chứng dạ dày rỗng nhanh chóng.
Phương tiện hình ảnh học thần kinh
Xuất hiện nhiều kĩ thuật can thiệp hình ảnh học thần kinh bao gồm tắc mạch, coiling, và đặt stent mạch máu cũng như can thiệp cột sống như chụp đĩa gian đốt sống.
Phối hợp vận động và tư thế dáng bộ
Đánh giá cử động thay đổi nhanh của ngón tay, ngón chân, nghiệm pháp ngón tay chạm mũi, Quan sát bệnh nhân khi họ đi trên đường thẳng.
Bệnh tim bẩm sinh ở người lớn: nguyên lý nội khoa
Phương pháp điều trị bị giới hạn và bao gồm dãn động mạch phổi và xem xét ghép đơn lá phổi kèm sửa chữa khiếm khuyết ở tim, hoặc cấy ghép tim phổi.
Run và các rối loạn vận động
Sự dao động theo nhịp điệu của một bộ phận cơ thể do sự co cơ từng cơn, thường ảnh hưởng các đoạn chi ở xa và ít ảnh hưởng đến đầu, lưỡi hay hàm.
Viêm gan virut cấp
Viêm gan virut cấp tính là một nhiễm trùng toàn thân chủ yếu ảnh hưởng đến gan. Biểu hiện lâm sàng là mệt mỏi, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, sốt nhẻ, tiếp theo là nước tiểu đậm màu, vàng da, gan to mềm.
Tăng thân nhiệt: nguyên lý nội khoa
Khó phân biệt được sốt hay tăng thân nhiệt. Bệnh sử thường rất hữu ích, ví dụ tiền căn tiếp xúc nhiệt độ hay điều trị bằng các loại thuốc ảnh hưởng đến quá trình điều nhiệt.
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô.
Ung thư đại trực tràng và hậu môn
Phần lớn ung thư đại tràng có nguồn gốc từ các polyp tuyến. Các bậc di truyền từ polyp đến loạn sản thành ung thư tại chỗ, ung thư thâm nhiễm đã được xác định.
Ngất: nguyên lý nội khoa
Các rối loạn khác phải được phân biệt với ngất, bao gồm động kinh, thiếu máu động mạch sống nền, hạ oxy máu, và hạ đường huyết.
Tràn khí màng phổi: nguyên lý nội khoa
Tràn khí màng phổi do chấn thương, là hậu quả của chấn thương lồng ngực dạng xuyên thấu hoặc không, thường có chỉ định mở màng phổi dẫn lưu.
Viêm tụy mãn: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Đau là triệu chứng chủ yếu. Sút cân, đại tiện phân mỡ, và các triệu chứng kém hấp thu khác. Khám thực thể thường thường không có gì nổi bật.
Bệnh cơ tim và viêm cơ tim, nguyên lý nội khoa
Cơ tim gia tăng độ cứng làm giảm khả năng giãn của tâm thất, áp suất tâm trương tâm thất gia tăng. Các nguyên nhân bao gồm các bệnh lý thâm nhiễm
Bệnh bướu cổ không độc: nguyên lý chẩn đoán và điều trị
Bướu giáp dưới xương ức có thể cản trở phía trên ngực và nên đánh giá với các phép đo lưu lượng hô hấp và CT hoặc MRI ở bệnh nhân có dấu hiệu hoặc triệu chứng.
