Các phương pháp chẩn đoán bổ trợ bệnh da

2018-02-23 11:14 AM

Có ích cho việc phát hiện nấm ngoài da hoặc nấm men. Vảy da được lấy từ rìa của tổn thương bằng cách cạo nhẹ nhàng bằng bản kính mang mẫu ở kính hiển vi hoặc một lưỡi dao.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Sinh thiết da

Tiến hành trên tiểu phẫu. Lựa chọn vị trí sinh thiết là quan trọng.

Xét nghiệm máu với KOH

Có ích cho việc phát hiện nấm ngoài da hoặc nấm men. Vảy da được lấy từ rìa của tổn thương bằng cách cạo nhẹ nhàng bằng bản kính mang mẫu ở kính hiển vi hoặc một lưỡi dao. Tổn thương ở móng tay được lấy mẫu tốt nhất bằng cách cắt lại móng tay và cạo lấy vụn ở dưới móng. Nhỏ 1 giọt 10-20% kali hydroxit vào bản kính mang mẫu, và lá kính đậy được đậy lên. Các bản kính mang mẫu có thể được làm nóng qua bằng nhiệt và được quan sát dưới kính hiển vi. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để xác định các sợi nấm trong nhiễm nấm ngoài da, giả sợi nấm và nấm men nảy chồi trong nhiễm Candida, và “dạng ống và thịt viên” nấm men trong lang ben.

Bảng. MÔ TẢ TỔN THƯƠNG DA THỨ PHÁT

Liken hóa: Da dày lên khác biệt mà đặc trưng là những mảng da vùng nếp gấp.

Vảy da: quá sản lớp sừng.

Vảy tiết: do chất xuất tiết khô đọng lại mà có thể có màu vàng (tức là, chất xuất tiết là huyết thanh) hoặc đỏ (tức là, chất xuất tiết là máu).

Vết trợt: Mất lớp thượng bì mà không mất lớp hạ bì.

Vết loét: Mất lớp thượng bì và ít nhất một phần của lớp hạ bì.

Vết xước: vết trợt da thẳng dài, mảnh có thể được phủ bởi vảy tiết và do gãi gây ra.

Teo da: Mất chất mắc phải. Ở da, có thể biểu hiện như vết lõm da mà biểu bì còn nguyên vẹn (tức là, mất lớp trung bì hoặc mô liên kết dưới da) hoặc tại vị trí tổn thương sáng bóng, mỏng, nhăn (tức là, teo biểu bì).

Sẹo: Xuất hiện ở da sau chấn thương hoặc viêm. Ở vị trí này có thể có hồng ban, giảm sắc tố, hoặc tăng sắc tố phụ thuộc vào thời gian và đặc điểm của vết sẹo. Vết sẹo trên da đầu có thể đặc trưng do sự phá hủy của các nang tóc.

Xét nghiệm tế bào TZANCK

Có ích trong xác định nguyên nhân do virus herpes (herpes simplex virus hoặc vi rút herpes zoster). Lấy mẫu tốt nhất là ở các tổn thương mụn nước mới. Tổn thương được phá vỡ nhẹ nhàng bằng lưỡi dao no.15, và đáy mụn nước được cạo nhẹ lưỡi dao (giữ lưỡi dao vuông góc với bề mặt da để tránh rách da). Những mảnh nhỏ được cạo được đưa vào bản kính mang mẫu và nhuộm với Giemsa hoặc Wright. Xét nghiệm dương tính là có các tế bào đa nhân khổng lồ. Cấy hoặc làm test miễn dịch huỳnh quang phải được thực hiện để xác định virus đặc hiệu.

Khám da bằng phiến kính

Đánh giá xem liệu một tổn thương có mất màu không khi dùng áp lực. Thực hiện bằng cách nhấn một ống kính lúp hoặc kính hiển vi trên tổn thương và quan sát những thay đổi trong mạch máu. Ví dụ, u mạch thường sẽ mất màu ; tổn thương xuất huyết thì không.

Đèn kiểm tra da WOOD LIGHT

Có ích trong tìm nguyên nhân nhiễm khuẩn do vi khuẩn hoặc do nấm hoặc các đặc điểm đặc trưng của một số tổn thương da.

Test áp

Để kiểm tra dị ứng da với kháng nguyên đặc hiệu.

Bài viết cùng chuyên mục

Xuất huyết tiêu hoá: nguyên lý nội khoa

Hematocrit có thể không phản ánh đúng mức lượng máu mất vì sự cân bằng với dịch ngoại bào bị trì hoãn. Bạch cầu và tiểu cầu tăng nhẹ. Ure máu tăng thường gặp trong xuất huyết tiêu hoá trên.

Đái tháo đường: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Các thể đặc biệt khác bao gồm đái tháo đường do khiếm khuyết di truyềnvà rối loạn đơn gen hiếm gặp khác, bệnh về tuyến tụy ngoại tiết.

Đau lưng dưới: nguyên lý nội khoa

Đau tại chỗ gây nên bởi sự căng dãn các cấu trúc nhận cảm đau do đè nén hoặc kích thích đầu mút thần kinh; đau khu trú ở gần khu vực lưng bị tổn thương

Rối loạn cương dương: rối loạn hệ sinh sản nam giới

Tiền sử cương dương buổi sáng sớm hoặc đêm là hữu ích cho việc phân biệt cương dương sinh lý với rối loạn cương dương do tâm lý.

Viêm túi mật cấp: nguyên lý nội khoa

Phẫu thuật cắt có túi mật cấp trong phần lớn bệnh nhân nghi ngờ hoặc xác định có biến chứng. Trì hoãn phẫu thuật trong trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc chuẩn đoán nghi ngờ.

Nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI)

Troponins T và I cơ tim khá đặc hiệu trong tổn thương cơ tim và là hai chỉ dấu được ưu tiên sử dụng để chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp. Nồng độ hai chỉ dấu này tăng kéo dài trong 7 đến 10 ngày.

Bệnh ống thận: nguyên lý nội khoa

Thuốc là một nguyên nhân gây nên thể này của suy thận, thường được xác định bằng sự tăng từ từ creatinin huyết thanh ít nhất vài ngày sau điều trị.

Tràn dịch màng ngoài tim ép tim ở bệnh nhân ung thư

Thường gặp nhất trên những bệnh nhân ung thư phổi hoặc vú, bệnh bạch cầu hay u lympho, chèn ép màng ngoài tim cũng có thể phát triển như là biến chứng muộn của xạ trị trung thất.

Huyết khối tăng đông

Trong bệnh viện thường bắt đầu điều trị chống đông bằng heparin trong 4 đến 10 ngày, duy trì tiếp warfarin sau khi dùng đồng thời 3 ngày. Thời gian điều trị phụ thuộc vào bệnh nền.

Rối loạn nhịp nhanh: nguyên lý nội khoa

Loạn nhịp với phức bộ QRS rộng có thể gợi ý nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất với dẫn truyền rối loạn. Các yếu tố thúc đẩy nhịp nhanh thất bao gồm.

Hội chứng thận hư: nguyên lý nội khoa

Ngoài phù, biến chứng của hội chứng thận hư có thể kể đến như huyết khối tĩnh mạch và các biến cố huyết khối tắc mạch khác, nhiễm trùng, thiếu vitamin D.

Co giật và động kinh: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Khám tổng quát gồm tìm kiếm chỗ nhiễm trùng, chán thương, độc chất, bệnh hệ thống, bất thường thần kinh da, và bệnh mạch máu.

Thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu

Huyết khối tĩnh mạch sâu thường có biểu hiện khó chịu tăng dần ở bắp chân. Đối với thuyên tắc phổi, khó thở là triệu chứng hay gặp nhất.

Các dạng phơi nhiễm phóng xạ hạt nhân

Vải và da thường có thể ngăn cản được hạt nhân alpha xâm nhập vào cơ thể. Nếu hạt alpha vào trong cơ thể, chúng gây tổn thương tế bào nghiêm trọng.

Bệnh lắng đọng canxi apatit và canxi oxalat

Apatit là yếu tố quan trọng trong chứng khớp vai Milwaukee, một bệnh khớp phá hủy của người già xảy ra ở khớp vai và khớp gối.

Xét nghiệm tiêu bản tủy xương

Chọc hút tế bào đánh giá hình thái tế bào. Sinh thiết đánh giá tổng thể cấu trúc tủy, bao gồm mật độ tế bào. Sinh thiết nên tiến hành trước chọc hút tế bào để tránh sai sót trong bệnh phẩm.

Tăng bạch cầu: nguyên lý nội khoa

Bệnh lý huyết học, bệnh bạch cầu, u lympho, hội chúng tăng sinh tủy mạn ác tính và loạn sản tủy, thiếu máu tan máu, giảm bạch cầu trung tính mạn vô căn.

Rối loạn thính giác: nguyên lý nội khoa

Chấn thương ở trước đầu, tiếp xúc với các thuốc gây độc ốc tai, tiếp xúc với tiếng ồn nghề nghiệp hoặc giải trí, hoặc tiền sử gia đình có giảm thính lực cũng quan trọng.

Hội chứng kháng phospholipid: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Hội chứng kháng phospholipid tai họa là bệnh huyết khối tắc mạch tiến triển nhanh có liên quan đến ba hệ thống cơ quan.

Áp xe và u máu ngoài màng tủy

Chọc dò tuỷ sống được chỉ định nếu bệnh lý não hoặc các dấu hiệu lâm sàng khác tăng nghi ngờ viêm màng não, chiếm nhỏ hơn 25 phần trăm trường hợp.

Rối loạn nhịp chậm: nguyên lý nội khoa

Loại trừ hoặc chữa trị các nguyên nhân ngoại sinh như thuốc hoặc suy giáp. Mặt khác triệu chứng chậm nhịp đáp ứng với đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn.

Chọc dò tủy sống: nguyên lý nội khoa

Với bất kì tư thế nào, người bệnh đều phải gập người càng nhiều thì càng tốt. Ở tư thế nằm nghiêng, bệnh nhân gập người sao cho đầu gối chạm vào bụng như tư thế của thai nhi.

Bướu cổ đa nhân độc và u tuyến độc: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Ngoài các đặc điểm của bướu cổ, biểu hiện lâm sàng của bướu cổ đa nhân độc bao gồm cường giáp dưới lâm sàng hoặc nhiễm độc giáp nhẹ

Mất thị lực từ từ

U thần kinh thị hoặc u giao thoa thị giác tương đối hiếm, nhưng thường không phát hiện ra vì chúng gây mất thị lực từ từ và ít khi tìm ra khi khám lâm sàng, ngoại trừ có mờ đĩa thị.

Bệnh Parkinson: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Hầu hết các trường hợp bệnh Parkinson là tự phát và không rõ nguyên nhân, sự thoái hoá của các neuron của vùng đặc chất đen ở não giữa dẫn đến việc thiếu dopamin.