- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm
- Nhiễm khuẩn do Hemophilus influenzae
Nhiễm khuẩn do Hemophilus influenzae
Ớ người lớn ít gặp chủng hemophilus tiết men β lactamase hơn ở trẻ em. Có thể điều trị với người lớn bị viêm xoang, viêm tai hay nhiễm khuẩn đường hô hấp bằng amoxicillin 500mg.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Hemophilus influenzae (HI) typ B là nhân tố gây bệnh chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Kể từ khi có vaccin tiêm phòng HI typ B (Hlb) một cách thường quy đến nay, các bệnh do vi khuẩn này đã biến dần. HI và các loại hemophilus khác có thể gây viêm xoang, viêm tai, viêm phế quản, viêm nắp thanh quản, viêm phổi, viêm mô tế bào, viêm khớp, viêm màng não và viêm màng trong tim ở người lớn.
Ớ người lớn, HI typ B là vi khuẩn hay gặp nhất trong viêm phổi, dù gần đây một vài chủng chưa định typ của HI có thể gây bệnh ở những người nhiễm HIV. Bệnh cảnh viêm phổi điển hình, đờm có chứa nhiều vi khuẩn hình gậy gram (-) đa dạng. Những người lớn tuổi, nghiện rượu, hút thuốc lá, nhiễm HIV là những người có nguy cơ cao. Các chủng heamophilus thường cư trú tại đường hô hấp trên. Vì vậy, nếu cấy dịch màng phổi hoặc cấy máu âm tính, thì rất khó phân biệt là vi khuẩn này gây viêm phổi hay chỉ là cư trú ở đường hô hấp. Chính vì vậy, người ta thường quy cho vi khuẩn này gây viêm phổi mặc dù có thể là do vi khuẩn khác.
Ớ người lớn ít gặp chủng hemophilus tiết men β lactamase hơn ở trẻ em. Có thể điều trị với người lớn bị viêm xoang, viêm tai hay nhiễm khuẩn đường hô hấp bằng amoxicillin 500mg, uống ngày 3 lần, trong 10 - 14 ngày. Nếu có dị ứng với penicillin, có thể dùng cotrimoxazol, 800/160 mg ngày 2 lần, trong 10 - 14 ngày, hoặc azithnomycin ngày đầu 500mg một lần, 4 ngày sau mỗi ngày 250mg uống 1 lần. Trong trường hợp bệnh nặng (bệnh nhân viêm phổi nhiều thùy có tình trạng nhiễm độc), cần dùng cephalosporin thế hệ 2 hoặc thế hệ 3 như cefuroxim 750mg ngày 3 lần hoặc ceftriaxon 1 g/ngày tiêm một lần trong khi chờ đợi kết quả kháng sinh đồ. Nếu dị ứng penicillin, có thể tiêm cotrimoxazol với liều 10mg/kg trimethoprim mỗi ngày. Thời gian từ 10 - 14 ngày là phù hợp cho đa số bệnh nhân.
Viêm nắp thanh quản (epiglottitis) là bệnh chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ. Tuy vậy đôi khi cũng có thể gặp ở người lớn với các triệu chứng: sốt cao, sốt đột ngột, chảy nhiều nước bọt, không thể nuốt được, chất tiết trong họng, thở rít do tắc thanh quản. Nếu phát hiện sớm, người ta khuyên đặt nội khí quản ngay vì bệnh tiến triển rất nhanh khó lường trước. Chẩn đoán dựa vào dấu hiệu quan sát trực tiếp được nắp thanh quản sưng nề có màu đỏ rực như dâu tây. Vì đèn soi có thể gây kích thích làm co thắt thanh quản và gây tắc thở, nên việc thăm khám này cần thực hiện tại khoa điều trị tích cực và chỉ khi đã sẵn sàng đặt nội khí quản. Cefuroxim, 1,5g ngày 3 lần, trong 7 - 10 ngày hoặc ceftriaxon 1g ngày, trong 7 - 10 ngày là các thuốc hay dùng. Có thể dùng cotrimoxazol hoặc chloramphenicol (4g/ngày) nếu dị ứng penicillin nặng.
Viêm màng não. Ở người lớn ít gặp viêm màng não do vi khuẩn này, nhưng khi có viêm xoang, hoặc viêm tai, thì có thể gặp viêm màng não, nên cần xem xét kỹ. Nếu nghi ngờ do viêm màng não do H.influenzae thì cần điều trị bằng ceftriaxon 4g/ngày, tiêm tĩnh mạch một lần hoặc chia 2 lần, trừ khi biết là vi khuẩn này không sản xuất men beta -lactamase. Nếu dị ứng nặng với penicillin, thì có thể dùng chloramphenicol 100 mg/kg/ngày chia 4 lần. Theo cổ điển, cần điều trị 10 - 14 ngày, ở trẻ em, người ta thấy desamethason, liều 0,15mg/kg, 4 lần trong một ngày duy nhất thấy có một số tác dụng làm giảm một số di chứng lâu dài, đặc biệt là điếc. Nhưng ở người lớn, tác dụng này đang đang còn được bàn cãi.
Bài viết cùng chuyên mục
Bệnh do Hantavirus
Chẩn đoán dựa vào phản ứng huyết thanh học bằng nhuộm hóa học mô miên dịch hoặc bằng kỹ thuật khuyếch đại PCR của ADN virus trong tổ chức.
Một số nhiễm khuẩn do liên cầu nhóm A
Mọi tình trạng nhiễm liên cầu, đặc biệt là viêm cân hoại tử đều có thể bị hội chứng sốc nhiễm độc tố liên cầu. Bệnh có đặc điểm là: viêm da hoặc viêm tổ chức phần mềm, suy hô hấp cấp, suy thận.
Viêm dạ dày ruột do Escherichia Coli
Kháng sinh không có tác dụng, điều trị nâng đỡ là chủ yếu. Khi có tiêu chảy và hội chứng urê huyết - huyết tán đồng thời, cần nghĩ tới E. coli gây xuất huyết và phát hiện chúng.
Nhiễm khuẩn ở những người tiêm chích
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục không liên quan trực tiếp đến tiêm chích nhưng qua thực tế quan hệ tình dục để trao đổi ma tuý đã làm tăng tần suất các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Với mỗi bệnh nhân có một hoặc nhiều lần quan hệ tình dục thì đều phải được chẩn đoán và điều trị theo nguyên tắc là bạn tình phải được điều trị đồng thời để tránh khả năng tái nhiễm.
Sốt Q
Viêm nội tâm mạc ít gặp nhưng lại là thể nặng của nhiễm Coxiella và liên quan với tình trạng tổn thương miễn dịch, việc sống ở vùng thành thị, uống sữa tươi.
Bệnh do Nocardia
Bệnh có thể khuếch tán đến bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Áp xe não và các cục dưới da là hay gặp nhất, nhưng chỉ gặp ở người bị suy giảm miễn dịch.
Các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí
Dưới đây sẽ điểm qua các bệnh nhiễm khuẩn chủ yếu do các vi khuẩn kỵ khí gây ra. Điều trị chung cho các bệnh này bao gồm mổ thăm dò ngoại khoa, cắt lọc đủ rộng và dùng kháng sinh.
Bệnh dịch hạch
Khởi bệnh đột ngột sốt cao, mệt nặng, nhịp tim nhanh, đau đầu và đau cơ dữ dội. Bệnh nhân trong tình trạng nặng, có thể thấy mê sảng.
Hội chứng Kawasaki
Biến chứng chính là viêm động mạch vành, xảy ra ở 20% số trường hợp không điều trị. Những yếu tố liên quan tới phát triển phình động mạch vành là tăng bạch cầu, tăng protein phản ứng C.
Các bệnh do Mycobacteria không điển hình, không phải lao
Các thuốc có tác dụng trong điều trị là rifabutin, azithromycin, clarithromycin, và ethambutol, Amikacin và ciprofloxacin có tác dụng trên thí nghiệm nhưng số liệu về lâm sàng còn chưa đủ để kết luận.
Bệnh phong
Bệnh được phân thành 2 thể theo lâm sàng và mô bệnh học: thể lan tỏa và thể củ. Thể lan toả gặp ở người có suy giảm miễn dịch tế bào.
Sốt phát ban thành dịch do bọ chét
Ban ở dạng dát sẩn tập trung ở thân mình và mờ đi tương đối nhanh, ít gặp bệnh nhân tử vong và thường chỉ xảy ra ở người già.
Nhiễm khuẩn do các cầu khuẩn ruột
Vì các kháng sinh này đều không phải là loại kháng sinh diệt khuẩn đối với cầu khuẩn ruột, nên trong trường hợp viêm nội tâm mạc hoặc nhiễm khuẩn nặng khác.
Sốt do ve Colorado
Cần phải chẩn đoán phân biệt bệnh sốt do ve Colorado với các bệnh: cúm, nhiễm Rickettsia rickettsii, vả những bệnh sốt có giảm bạch cầu cấp tính khác.
Nhiễm khuẩn do Moraxeila catarrhalis
Vi khuẩn này thường cư trú tại đường hô hấp, nên phân biệt giữa gây bệnh và bình thường là rất khó. Khi phân lập được đa số là vi khuẩn này, cần điều trị tiêu diệt chúng.
Test quá mẫn và giải mẫn cảm
Nếu phản ứng ở mức độ nhẹ xẩy ra thì dùng liều thấp hơn và tiếp tục giải mẫn cảm. Nếu phản ứng nặng hơn, cần dùng epinephrin và ngừng thuốc trừ khi việc điều trị là tối cần thiết.
Ỉa chảy ở người du lịch
Tránh dùng thức ăn và nguồn nước để lạnh dễ bị nhiễm bẩn ở những người du lịch tới các nước đang phát triển nơi mà bệnh ỉa chảy nhiễm khuẩn đang là dịch lưu hành.
Ho gà
Các triệu chứng bệnh ho gà thường kéo dài 6 tuần và diễn biến theo 3 giai đoạn liên tiếp: giai đoạn viêm long ban đầu, có đặc điểm là khởi phát kín đáo.
Vết thương do người và xúc vật cắn
Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn các vết cắn phụ thuộc vào súc vật cắn và thời điểm nhiễm khuẩn vết thương sau khi bị cắn, Pasteunrella multocida gây nhiễm khuẩn vết thương do chó và mèo cắn rất sớm
Các bệnh do lậu cầu khuẩn
Ở nam giới, lúc đầu có đái nóng, và dịch trắng hoặc ngà ở ngay đầu. Vài ba ngày sau, đái đau rõ dần và dịch tiết quy đầu vàng sẫm hơn đặc như kem, nhiều và có thể lẫn máu.
Các bệnh do nấm Actinomyces
Đây là các vi khuẩn dạng sợi phân nhánh gram + kỵ khí, có đường kính khoảng 1µm và có thể phân chia thành dạng trực khuẩn. Khi vào trong các mô của vết thương.
Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn
Trong trường hợp có tổn thương hệ thần kinh trung ương dịch não tủy cho thấy tăng áp lực, các tế bào lympho bất thường và protein.
Bệnh bạch hầu
Có thể gặp các thể bệnh ở mũi, họng, thanh quản và ở da. Nhiễm khuẩn ở mũi có rất ít triệu chứng, chủ yếu là chảy nước mũi.
Nhiễm tụ cầu khuẩn huyết
Trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao như người tiểu đường, người có suy giảm miễn dịch hoặc nghi ngờ có viêm nội tâm mạc, người ta khuyên nên dùng dài ngày hơn.
