Bệnh tả

2016-03-28 10:47 AM

Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Tiêu chảy dữ dội.

Phân nhiều nước, màu xám đục, không có mùi phân, máu hay mủ (phân như nước gạo).

Mất nước nhanh chóng.

Có tiếp xúc với người bệnh hoặc đến vùng có dịch tả.

Phản ứng ngưng kết và cấy phân phân lập được phẩy khuẩn tả.

Nhận định chung

Tả là bệnh tiêu chảy cấp do một số typ huyết thanh nhất định của phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae gây ra. Bệnh thông qua cơ chế độc tố, thường không sốt. Độc tố tả kích hoạt men adenylyl cyclase trong tế bào biểu mô ruột non làm tiết quá mức, nước và ion clo, gây tiêu chảy dữ dội, có thể đến 1,5 lít mỗi ngày. Tử vong là do giảm thể tích máu nặng.

Bệnh tả xuất hiện thành dịch trong điều kiện như chiến tranh, đông đúc, nạn đói (trong các trại ty nạn) điều kiện vệ sinh tồi. Nhiễm bệnh do ăn uống phải thức ăn hoặc nước bị nhiễm vi khuẩn. ở Hoa Kỳ ít gặp tả, trừ vụ dịch năm 1991 mà nguồn gốc là từ Peru, qua các nước Nam và Trung Mỹ, Mexico và một số trường hợp lan sang Hoa Kỳ. Cần cảnh giác bệnh tả ở những người tiêu chảy nặng, nhất là họ có đi qua vùng dịch.

Biểu hiện lâm sàng

Tiêu chảy nặng, đột ngột, phân toàn nước (có thể đến 1 lít một giờ), màu đục xám, không mùi, không máu mũi (giống nước gạo). Kiệt nước và tụt huyết áp xuất hiện nhanh chóng.

Biểu hiện cận lâm sàng

Cấy phân có vi khuẩn mọc và phản ứng ngưng kết với nhiều huyết thanh đặc hiệu.

Phòng bệnh

Đã có vaccin có thể bảo vệ trong một thời gian ngắn cho người cần đi vào hoặc vừa từ vùng dịch ra. Cần dùng 2 liều cách nhau từ 1 - 4 tuần và nhắc lại 1 liều, 6 tháng một lần nếu cần (vẫn phải ở lại vùng đang có dịch). Tiêm chủng toàn dân vừa tôn kém, vừa ít hiệu quả ngăn ngừa dịch tả. Khi xuất hiện dịch cần tập trung giải quyết khâu vệ sinh thức ăn, nguồn nước uống của nhân dân và các chất thải của bệnh nhân.

Điều trị

Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch bằng cách cho một thìa cà phê muối với 4 thìa canh đầy đường vào một lít nước sôi để nguội. Chỉ cần truyền dịch khi bệnh nhân có dấu hiệu sốt do giảm thể tích hoặc không uống được dịch. Ringer lactat hoặc dịch truyền chứa 4g (70mEq) NaCl; 1g (10mEq) KClj 5,4g (50 mmol) lactat natri và 8g (45mmol) đường trong 1 lít nước dịch là được.

Kháng sinh giúp làm rút ngắn diễn biến bệnh. Nhiều kháng sinh có tác dụng với phẩy khuân tả như tetracyclin, ampicillin, chloramphenicol, cotrimoxazol, fluoroquinolon. Vì vi khuẩn có thể kháng nhiều kháng sinh, nên nếu được thì cần làm kháng sinh đồ.

Bài viết cùng chuyên mục

Nhiễm echovirus

Cũng như nhiễm các virus đường tiêu hóa khác, chẩn đoán cần dựa vào sự tương quan giữa lâm sàng, dịch tễ và xét nghiệm. Có thể nuôi cấy các virus từ dịch súc họng, máu hoặc dịch não tủy vào các tế bào.

Rubeon: bệnh sởi Đức

Sốt, mệt mỏi thường nhẹ, xuất hiện cùng với sưng viêm hạch dưới vùng chẩm, có thể xuất hiện trước phát ban khoảng 1 tuần. Có thế có sổ mũi.

Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung do Chlamydia

Điều trị thường theo giả định. Bạn tình của bệnh nhân cũng cần được điều trị. Cách điều trị hiệu quả là tetracyclin hoặc erythromycin 500mg uống ngày 4 lần.

Viêm dạ dày ruột do Escherichia Coli

Kháng sinh không có tác dụng, điều trị nâng đỡ là chủ yếu. Khi có tiêu chảy và hội chứng urê huyết - huyết tán đồng thời, cần nghĩ tới E. coli gây xuất huyết và phát hiện chúng.

Các bệnh do lậu cầu khuẩn

Ở nam giới, lúc đầu có đái nóng, và dịch trắng hoặc ngà ở ngay đầu. Vài ba ngày sau, đái đau rõ dần và dịch tiết quy đầu vàng sẫm hơn đặc như kem, nhiều và có thể lẫn máu.

Viêm họng nhiễm khuẩn do liên cầu

Liên cầu tan huyết bê ta nhóm A là vi khuẩn gây viêm họng xuất tiết phổ biến nhất. Bệnh lây qua các giọt nước bọt có vi khuẩn.

Nhiễm Parovirus

Việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng, nhưng có thể xác định bằng tăng nồng độ kháng thể kháng parvovirus loại IGM trong huyết thanh. Sốt tinh hồng nhiệt rất giống bệnh do parvovirus.

Sốt do chuột cắn

Sốt do chuột cắn cần được phân biệt với viêm hạch và phát ban do chuột cắn trong sốt do Streptobacillus gây nên. Về mặt lâm sàng, viêm khớp và đau cơ nặng.

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.

Nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao

Vì khi bắt đầu điều trị thường chưa có kết quả kháng sinh đồ, nên thường phải dựa vào độ mạnh của thuốc hoặc số liệu về tỷ lệ kháng thuốc trong cộng đồng hoặc trong quần thể bệnh nhân.

Nhiễm virus coxsackie

Những xét nghiệm thông thường không thấy có bất thường đặc trưng của bệnh. Kháng thể bằng phản ứng trung hòa xuất hiện trong giai đoạn hồi phục của bệnh.

Bệnh do Nocardia

Bệnh có thể khuếch tán đến bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Áp xe não và các cục dưới da là hay gặp nhất, nhưng chỉ gặp ở người bị suy giảm miễn dịch.

Ỉa chảy ở người du lịch

Tránh dùng thức ăn và nguồn nước để lạnh dễ bị nhiễm bẩn ở những người du lịch tới các nước đang phát triển nơi mà bệnh ỉa chảy nhiễm khuẩn đang là dịch lưu hành.

Nhiễm khuẩn da do liên cầu

Đối với những bệnh nhân có dấu hiệu toàn thân nặng hoặc bệnh phân bị viêm tổ chức tế bào da ở mặt, cần dùng kháng sinh đường toàn thân.

Sốt vàng

Có thể khó chẩn đoán phân biệt giữa sốt vàng và viêm gan, sốt rét, bệnh do leptospiraa, Dengue và các sốt xuất huyết khác nếu chỉ dựa trên biểu hiện lâm sàng đơn thuần.

Bệnh do Tularemia

Sốt, đau đầu và buồn nôn khởi phát đột ngột. Tại chỗ vết thương, nơi đường vào nổi sẩn hồng nhưng nhanh chóng trở thành vết loét. Hạch vùng sưng to, đau và có thể bị mưng mủ.

Một số bệnh nhiễm khuẩn do Vibrio gây nên

V vulnificus và V alginolyticus đều không gây tiêu chảy, nhưng chủ yếu gây viêm mô tế bào dưới da và nhiễm khuẩn huyết tiên phát, Sau khi ăn sò có vi khuẩn hoặc tiếp xúc với nước biển.

Nhiễm virus Poxvirus

Vaccin bệnh đậu bò có khả năng loại trừ một phần bệnh đậu mùa. Vaccin thông thường chỉ được dùng cho người ở phòng xét nghiệm vì người này phải tiếp xúc với virus.

Bệnh dại

Bệnh dại hầu hết là tử vong, những người sống sót có thể là do nhiễm virus giống dại. Người thầy thuốc đối diện với vấn đề thường gặp nhất trên lâm sàng là xử trí bệnh nhân bị động vật cắn.

Chlamydia psittaci và bệnh sốt vẹt

Bệnh thường khởi phát nhanh, có sốt, ớn lạnh, đau cơ, ho khan và đau đầu. Các dấu hiệu bệnh như mạch nhiệt phân ly, gõ phổi đục và nghe phổi có ran.

Nhiễm khuẩn do các cầu khuẩn ruột

Vì các kháng sinh này đều không phải là loại kháng sinh diệt khuẩn đối với cầu khuẩn ruột, nên trong trường hợp viêm nội tâm mạc hoặc nhiễm khuẩn nặng khác.

Bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Đa số bệnh nhân bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là có bệnh tim từ trước, ngược với một số trường hợp xảy ra trên người không có bệnh tim, chủ yếu là ở người tiêm chích.

Bệnh mèo cào

Nhưng vi khuẩn Bartonella quintana cũng có thể gây bệnh u mạch lan toả do vi khuẩn và viêm nội tâm mạc mà khi cấy vi khuẩn không mọc.

Sốt đốm xuất huyết vùng núi Rocky

Tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu, hạ natri máu, protein niệu, hồng cầu niệu là hay gặp. Dịch não tủy có thể có glucose giảm, tăng nhẹ bạch cầu lympho.

Sốt phát ban thành dịch do chấy rận (do rickettsia)

Những yếu tố làm bệnh dễ lây truyền là sống đông người, chật chội, hạn hán, chiến tranh hoặc bất kỳ hoàn cảnh nào chấy rận nhiều