- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm
- Những tác nhân gây bệnh giống virus có thời gian tiềm tàng kéo dài
Những tác nhân gây bệnh giống virus có thời gian tiềm tàng kéo dài
Chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chỉ có phòng bệnh bằng cách tránh lây nhiễm từ tổ chức não bị bệnh, điện cực, dụng cụ phẫu thuật thần kinh hoặc tránh ghép giác mạc.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Một số bệnh ở động vật do các vi sinh vật có khả năng lây truyền với tốc độ nhân lên chậm và có thời gian tiềm tàng kéo dài ở vật chủ. Chúng được gọi là những tiểu thể gây nhiễm proteinaceous kháng với hầu hết các phương pháp sửa đổi của acid nucleic và ngày càng được nhiều người nhắc tới như là “prions”. Bốn vi sinh vật đó và những sinh vật tương tự gây bệnh ở người sẽ được trình bày ở đây.
Bệnh Kuru và Creutzfeldt - Jakob là bệnh não dạng xốp dùng để chỉ những tổn thương tổ chức hệ thần kinh trung ương trên giải phẫu bệnh. Những mầm bệnh có thể lan truyền tới tổ chức não hoặc mắt của động vật linh trưởng, kể cả người. Bệnh khởi phát sau nhiều tháng tới nhiều năm bệnh ở giai đoạn tiềm tàng và có chiều hướng ngày càng xấu đi. Bệnh Kuru đã từng thịnh hành ở trung New Guinea nhưng không còn tồn tại kể từ khi không còn việc ăn thịt đồng loại. Bệnh đặc trưng bằng that điều tiểu não, run loạn vận ngôn và cảm xúc không ổn định.
Bệnh Creutzfeldt - Jakob thường biểu hiện ở người trung tuổi với giảm trí tuệ nhanh, co cứng cơ cục bộ kiểu rung giật cợ thất điều, ngủ nhiều và trên điện não đồ xuất hiện những sóng có điện thế cao kịch phát cùng những sóng chậm. Bệnh tiến triển nhanh thành câm bất động. Yếu tố nguy cơ đối với bệnh chưa được xác định, mặc dù trong 15% số trường hợp có tiền sử gia đình. Chụp cộng hưởng từ trong trường hợp điển hình cho thấy có dấu hiệu tăng tín hiệu cả hai bên não, đặc biệt là nhân đuôi và nhân bèo sẫm.
Chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chỉ có phòng bệnh bằng cách tránh lây nhiễm từ tổ chức não bị bệnh, điện cực, dụng cụ phẫu thuật thần kinh hoặc tránh ghép giác mạc, màng cứng, dùng hormon sinh trưởng từ những tử thi bị bệnh. Các dụng cụ cần tiệt trùng bằng hấp ở 7,5 at trong 1 giờ. Tiệt trùng bề mặt bị nhiễm bẩn bằng hypochlorit 5% hoặc natrihydroxid 0,1 N.
Gần đây, một biến thể của bệnh Creutzfeldt - Jacob được thông báo gây ra một vụ dịch nhỏ ở Anh quốc. Bệnh nhân là những người trẻ, thời gian bị bệnh dài hơn, triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn (mặc dù triệu chứng tâm thần phổ biến hơn) và trên điện não đồ không có dấu hiệu điển hình của bệnh Creutzfeldt - Jakob kinh điển. Người ta cho rằng bệnh này là do ăn thịt bò bị nhiễm bệnh não dạng xốp ở bò (bovine spongiform encephalopathy - BSE) (bệnh bò điên). Phân tích thông kê cho thấy có sự phù hợp với nguyên nhân gây bệnh.
Viêm toàn bộ não xơ hóa bán cấp cũng là một bệnh tiến triển chậm nhưng về giải phẫu bệnh cho thấy có sự hủy hoại myelin hơn là tổn thương dạng xốp. Bệnh thường gặp ở trẻ em (tuổi trung bình khi khởi phát là 7 tuổi) với biểu hiện lâm sàng là co giật, giảm trí tuệ và bệnh hầu như gây tử vong. Mầm bệnh gần giống như virus sởi hoặc có thể chủng vaccin sởi. Kháng thể kháng sởi tăng trong dịch não tủy. Bệnh hay gặp ở các bé trai ở các vùng nông thôn mà không thể giải thích được.
Bệnh não chất trắng nhiều ổ tiến triển là một bệnh rối loạn hệ thần kinh trung ương với sự hủy myelin tiến triển chậm khác. Bệnh thường xảy ra ở những người có suy giảm miễn dịch, gồm cả những bệnh nhân AIDS. Nguyên nhân là do virus JC (JCV), một papovirus có ái tính với tế bào thần kinh đệm ít gai có myelin ở hệ thần kinh trung ương. Virus này có thể nuôi cấy và xác đinh được bằng kỹ thuật PCR từ tổ chức thần kinh trung ương ở những người nhiễm HIV và những người suy giảm miễn dịch, mặc dù nó không nhất thiết gây bệnh.
Bài viết cùng chuyên mục
Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương
Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.
Sốt Q
Viêm nội tâm mạc ít gặp nhưng lại là thể nặng của nhiễm Coxiella và liên quan với tình trạng tổn thương miễn dịch, việc sống ở vùng thành thị, uống sữa tươi.
Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn
Trong trường hợp có tổn thương hệ thần kinh trung ương dịch não tủy cho thấy tăng áp lực, các tế bào lympho bất thường và protein.
Ỉa chảy ở người du lịch
Tránh dùng thức ăn và nguồn nước để lạnh dễ bị nhiễm bẩn ở những người du lịch tới các nước đang phát triển nơi mà bệnh ỉa chảy nhiễm khuẩn đang là dịch lưu hành.
Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai
Giang mai ẩn là thời kỳ yên lặng sau khi các tổn thương thứ phát mất đi và trước khi các triệu chứng giang mai tái phát xuất hiện.
Bệnh do Chlamydia pneumoniae chủng TWAR
Chlamydia pneumoniae gây viêm phổi, viêm phế quản và có mối liên quan với bệnh mạch vành qua dịch tễ huyết thanh học. Bệnh cảnh viêm phổi kiểu không điển hình.
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nói chung, các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường có xu hướng đa kháng và không nhậy cảm với các loại kháng sinh dùng để điều trị nhiễm khuẩn tại cộng đồng.
Bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Đa số bệnh nhân bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là có bệnh tim từ trước, ngược với một số trường hợp xảy ra trên người không có bệnh tim, chủ yếu là ở người tiêm chích.
Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục
Ghẻ cóc là một bệnh truyền nhiễm phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, do T. pallidum dưới nhóm pertenue gây nên. Đặc trưng của bệnh là các tổn thưong u hạt ở da, niêm mạc và xương.
Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung do Chlamydia
Điều trị thường theo giả định. Bạn tình của bệnh nhân cũng cần được điều trị. Cách điều trị hiệu quả là tetracyclin hoặc erythromycin 500mg uống ngày 4 lần.
Viêm dạ dày ruột do Escherichia Coli
Kháng sinh không có tác dụng, điều trị nâng đỡ là chủ yếu. Khi có tiêu chảy và hội chứng urê huyết - huyết tán đồng thời, cần nghĩ tới E. coli gây xuất huyết và phát hiện chúng.
Nhiễm tụ cầu khuẩn huyết
Trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao như người tiểu đường, người có suy giảm miễn dịch hoặc nghi ngờ có viêm nội tâm mạc, người ta khuyên nên dùng dài ngày hơn.
Sốt phát ban thành dịch do chấy rận (do rickettsia)
Những yếu tố làm bệnh dễ lây truyền là sống đông người, chật chội, hạn hán, chiến tranh hoặc bất kỳ hoàn cảnh nào chấy rận nhiều
Sốt phát ban thành dịch do bọ chét
Ban ở dạng dát sẩn tập trung ở thân mình và mờ đi tương đối nhanh, ít gặp bệnh nhân tử vong và thường chỉ xảy ra ở người già.
Ho gà
Các triệu chứng bệnh ho gà thường kéo dài 6 tuần và diễn biến theo 3 giai đoạn liên tiếp: giai đoạn viêm long ban đầu, có đặc điểm là khởi phát kín đáo.
Nhiễm virus coxsackie
Những xét nghiệm thông thường không thấy có bất thường đặc trưng của bệnh. Kháng thể bằng phản ứng trung hòa xuất hiện trong giai đoạn hồi phục của bệnh.
Bệnh do các loài vi khuẩn Bartonella
Bệnh u mạch lan toả do trực khuẩn, là một trong những bệnh quan trọng do vi khuẩn Bartonella gây ra, Sốt chiến hào là bệnh sốt tái phát do rận truyền, tự khỏi do B. quintana gây ra.
Sốt do ve
Ở Mỹ, trong 10 năm có 67 trường hợp bị bệnh được phát hiện, phần lớn trong số đó là đi du lịch về từ châu Phi, gồm cả Somalia. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, huyết thanh lọc và kỹ thuật PCR.
Bệnh do Nocardia
Bệnh có thể khuếch tán đến bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Áp xe não và các cục dưới da là hay gặp nhất, nhưng chỉ gặp ở người bị suy giảm miễn dịch.
Viêm dạ dày ruột do Salmonella
Bệnh thường tự hết, nhưng có thể gặp tình trạng vi khuẩn huyết có khu trú ở khớp hoặc trong xương, nhất là ở những bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm.
Nhiễm khuẩn do liên cầu ngoài nhóm A
Liên cầu viridans là nhóm không gây tan máu, hoặc gây tan máu kiểu α (tức là gây vùng tan máu màu xanh lá cấy trên đĩa thạch) và là thành phần của vi khuẩn chí bình thường ở miệng.
Viêm màng não do não mô cầu
Sốt cao, rét run, đau đầu, đau lưng, đau bụng, đau đầu chi, buồn nôn và nôn đều có thể gặp. Khi bệnh nặng, bệnh nhân nhanh chóng bị lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.
Bệnh phong
Bệnh được phân thành 2 thể theo lâm sàng và mô bệnh học: thể lan tỏa và thể củ. Thể lan toả gặp ở người có suy giảm miễn dịch tế bào.
Một số nhiễm khuẩn do liên cầu nhóm A
Mọi tình trạng nhiễm liên cầu, đặc biệt là viêm cân hoại tử đều có thể bị hội chứng sốc nhiễm độc tố liên cầu. Bệnh có đặc điểm là: viêm da hoặc viêm tổ chức phần mềm, suy hô hấp cấp, suy thận.
Một số bệnh nhiễm khuẩn do Vibrio gây nên
V vulnificus và V alginolyticus đều không gây tiêu chảy, nhưng chủ yếu gây viêm mô tế bào dưới da và nhiễm khuẩn huyết tiên phát, Sau khi ăn sò có vi khuẩn hoặc tiếp xúc với nước biển.
