- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm
- Các bệnh do nấm Actinomyces
Các bệnh do nấm Actinomyces
Đây là các vi khuẩn dạng sợi phân nhánh gram + kỵ khí, có đường kính khoảng 1µm và có thể phân chia thành dạng trực khuẩn. Khi vào trong các mô của vết thương.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán
Có tiền sử nhiễm khuẩn răng hay chấn thương bụng gần đây.
Viêm phổi mạn tính hay các ổ áp xe âm ỉ vùng mặt cổ hay trong ổ bụng.
Có sự tạo đường xoang.
Nhận định chung
Nấm Actinomyces israelii và các loại actinomyces khác là thành phần của vi khuẩn chí bình thường ở miệng và hốc hạnh nhân khẩu cái. Đây là các vi khuẩn dạng sợi phân nhánh gram + kỵ khí, có đường kính khoảng 1µm và có thể phân chia thành dạng trực khuẩn. Khi vào trong các mô của vết thương và có mặt các vi khuẩn kỵ khí khác, các actinomyces này trở nên gây bệnh. Đa số trường hợp nhiễm khuẩn này nằm ở khu vực mặt - cổ (khoảng 60%), đặc biệt hay gặp sau khi nhổ răng hoặc có chấn thương nào đó. Cũng có thể gặp tổn thương tại đường tiêu hóa hay ở phổi do nuốt hoặc hít phải chất dịch từ miệng xuống.
Dấu hiệu và triệu chứng
Nhiễm nấm actinomyces vùng mặt - cổ
Bệnh phát triển chậm, vùng tổn thương trở nên cứng, da phía trên vùng tổn thương màu hơi đỏ hoặc tím. Có thể áp xe rò ra ngoài kéo dài. Có thể tìm thấy từng đám vi khuẩn dạng sợi giống như các hạt sulfur trong mủ. Thường không đau, trừ khi có bội nhiễm. Khi có cứng hàm chứng tỏ đã có tổn thương cơ cắn. Chụp X quang có thể thấy xương bị tổn thương.
Nhiễm nấm actinomyces lồng ngực
Tổn thương ở phổi bắt đầu bằng sốt, ho nhiều đờm, ra nhiều mồ hôí ban đêm và sụt cân. Có thể có đau thành ngực do viêm màng phổi. Có thể hình thành nhiều xoang lan đến thành ngực, đến tim hoặc khoang màng bụng. Xương sườn có thể bị tổn thương. Chụp X quang phổi có thể thấy nhiều vùng đông đặc và hay gặp tràn dịch màng phổi. Bệnh lý ở ngực hoặc mặt - cổ có thể lan lên hệ thần kinh trung ương gây áp xe não hoặc viêm màng não.
Nhiễm nấm actinomyces ở ổ bụng
Thường gây đau vùng hồi - manh tràng, sốt thành cơn có ớn lạnh, nôn, sụt cân nên thậm chí bị nhầm với bệnh Crohn. Có thể sờ thấy khối bờ không đều. Dùng dụng cụ tránh thai lâu ngày có thể gây viêm nhiễm vùng tiểu khung do actinomyces. Đôi khi có thể có hiện tượng dẫn lưu xoang ra ngoài gây rò. Chụp CT có thể thấy khối viêm, đôi khi thấy lan rộng đến xương.
Biểu hiện cận lâm sàng
Xét nghiệm mủ có thể thấy vi khuẩn gram (+) kỵ khí dạng sợi rải rác hoặc dạng hạt. Cần nuôi cấy trong môi trường kỵ khí để phân biệt với nocardia vì cách điều trị không giống nhau.
Điều trị
Thuốc đầu tay là penicillin G. Thường dùng 10 - 20 triệu đơn vị mỗi ngày, kéo dài từ 2 - 4 tuần bằng đường tiêm rồi sau đó chuyển sang uống 500mg penicillin V ngày 4 lần.
Các sulfamid như sulfamethoxazol có thể dùng điều trị với tổng liều hàng ngày là 2 - 4g. Đáp ứng với điều trị thường chậm, cần điều trị kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng sau khi hết các biểu hiện lâm sàng để đảm bảo không tái phát. Đôi khi cần mổ dẫn lưu hoặc cắt lọc rộng rãi.
Tiên lượng thường tốt khi được điều trị bằng penicillin và cắt lọc dẩn lưu. Tuy nhiên, do khó khăn về chẩn đoán, nên nhiều khi tổn thương lan rộng phá hủy tổ chức nhiều trước khi có chẩn đoán chính xác bệnh.
Bài viết cùng chuyên mục
Nhiễm virus Poxvirus
Vaccin bệnh đậu bò có khả năng loại trừ một phần bệnh đậu mùa. Vaccin thông thường chỉ được dùng cho người ở phòng xét nghiệm vì người này phải tiếp xúc với virus.
Quai bị
Nhậy cảm đau vùng mang tai và vùng mặt tương ứng phù nề là dấu hiệu thực thể hay gặp nhất. Đôi khi sưng ở một tuyến giảm hoàn toàn trước khi tuyến kia bắt đầu sưng.
Hội chứng Kawasaki
Biến chứng chính là viêm động mạch vành, xảy ra ở 20% số trường hợp không điều trị. Những yếu tố liên quan tới phát triển phình động mạch vành là tăng bạch cầu, tăng protein phản ứng C.
Bệnh than
Khi bệnh biểu hiện trên da, thường thấy các ban đỏ tại vùng bị thương và nhanh chóng chuyển sang các mụn phỏng màu hồng rồi màu đen ở giữa. Vùng xung quanh phù nề và nổi mụn phỏng.
Ỉa chảy nhiễm khuẩn cấp tính
Điều trị chủ yếu là bù nước và điện giải, trong một vài trường hợp có thể phải điều trị sốc mất nước và hỗ trợ hô hấp. Nói chung, phân lớn các trường hợp ỉa chảy cấp tính đều tự khỏi.
Bệnh Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.
Bệnh phong
Bệnh được phân thành 2 thể theo lâm sàng và mô bệnh học: thể lan tỏa và thể củ. Thể lan toả gặp ở người có suy giảm miễn dịch tế bào.
Sốt do chuột cắn
Sốt do chuột cắn cần được phân biệt với viêm hạch và phát ban do chuột cắn trong sốt do Streptobacillus gây nên. Về mặt lâm sàng, viêm khớp và đau cơ nặng.
Vãng khuẩn huyết và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn gram âm
Kháng sinh phải được dùng ngay khi có chẩn đoán, vì điều trị chậm sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong. Nói chung cần dùng bằng đường tĩnh mạch để đảm bảo được nồng độ cần thiết.
Nhiễm khuẩn do Moraxeila catarrhalis
Vi khuẩn này thường cư trú tại đường hô hấp, nên phân biệt giữa gây bệnh và bình thường là rất khó. Khi phân lập được đa số là vi khuẩn này, cần điều trị tiêu diệt chúng.
Sốt phát ban thành dịch do bọ chét
Ban ở dạng dát sẩn tập trung ở thân mình và mờ đi tương đối nhanh, ít gặp bệnh nhân tử vong và thường chỉ xảy ra ở người già.
Các loại bệnh do Campylobacte gây ra
C. fetus gây bệnh toàn thân, thậm chí có thể gây tử vong như nhiễm khuẩn huyết tiên phát, viêm nội tâm mạc, viêm màng não, áp xe khu trú.
Sốt phát ban do mò truyền
Sốt phát ban do mò truyền bởi con Orientia tsutsugamushi. Đây là sinh vật ký sinh chủ yếu ở loài gặm nhâm truyền bệnh qua các con mò ở vùng có dịch tễ được trình bày ở trên.
Viêm dạ dày ruột do Salmonella
Bệnh thường tự hết, nhưng có thể gặp tình trạng vi khuẩn huyết có khu trú ở khớp hoặc trong xương, nhất là ở những bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm.
Nhiễm khuẩn tụ cầu không tiết coagulase
Vì tụ cầu không tiết coagulase là vi khuẩn bình thường trên da người, nên phân lập được nó khó có thể nói đó là nhiễm khuẩn hay nhiễm bẩn khi cấy máu mà tìm thấy có vi khuẩn này.
U hạt vùng bẹn
Đó là những cục thâm nhiễm tương đối ít đau và nhanh chóng bong ra, để lại các vết loét nông, bờ rõ rệt, nền là tổ chức hạt mủn, màu đỏ như thịt bò.
Bệnh do Leptospira
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện.
Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương
Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.
Một số nhiễm khuẩn do liên cầu nhóm A
Mọi tình trạng nhiễm liên cầu, đặc biệt là viêm cân hoại tử đều có thể bị hội chứng sốc nhiễm độc tố liên cầu. Bệnh có đặc điểm là: viêm da hoặc viêm tổ chức phần mềm, suy hô hấp cấp, suy thận.
Rubeon: bệnh sởi Đức
Sốt, mệt mỏi thường nhẹ, xuất hiện cùng với sưng viêm hạch dưới vùng chẩm, có thể xuất hiện trước phát ban khoảng 1 tuần. Có thế có sổ mũi.
Bệnh do Chlamydia pneumoniae chủng TWAR
Chlamydia pneumoniae gây viêm phổi, viêm phế quản và có mối liên quan với bệnh mạch vành qua dịch tễ huyết thanh học. Bệnh cảnh viêm phổi kiểu không điển hình.
Bệnh do rickettsia
Tất cả các rickettsia đều bị ức chế bởi tetracyclin hoặc chloramphenicol. Tất cả các trường hợp nhiễm rickettsia giai đoạn đầu đáp ứng ở một vài mức độ với những thuốc này.
Bệnh tả
Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch.
Virus và viêm dạ dày ruột
Virus Norwalk và giống Norwalk chiếm khoảng 40% số các trường hợp ỉa chảy do virus đường tiêu hóa gây ra. Bệnh thường lây truyền qua con đường phân miệng.
Tạo miễn dịch chủ động chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
Nhiều loại vaccin được khuyên dùng cho người lớn tùy thuộc theo tình trạng tiêm phòng trước đó của mỗi người và những nguy cơ phoi nhiễm với một số bệnh.
