Triệt sản (chỉ định và điều trị)

Ngày: 2016-12-10

Vài nghiên cứu cho thấy có thể liên quan với ung thư tuyến tiền liệt nhưng bằng chứng còn mỏng manh và không chắc chắn


Hạn chế có thai một cách tự nguyện làm lợi cho những người phụ nữ, cho cả những người đàn ông và con cái của họ. Tránh thai cần đáp ứng được với tất cả mọi phụ nữ và nam giới trong tuổi sinh đẻ. Giáo dục về tránh thai và sự tiếp cận với các viên thuốc tránh thai hay dụng cụ tử cung là đặc biệt quan trọng đối với những nam nữ thanh niên dưới 20 tuổi và đối với những phụ nữ sau đẻ, sau sảy.

Giáo dục về bệnh lây truyền theo đường tình dục, đặc biệt AIDS cần đước tiến hành cho tất cả những ai có hoạt động tình dục song song song với việc thông báo rằng bao cao su dùng kèm với thuốc diệt tinh trùng có độ bảo vệ cao (nhưng không bảo vệ hoàn toàn) cho cả hai giới chống lại bệnh lây truyền theo đường tinh dục cũng như tránh thai. Dịch AIDS lan rộng trên thế giới đã tạo ra sự thay đổi xu hướng một cách có ý nghĩa sang sử dụng bao cao su cộng với thuốc diệt tinh trùng.

Ở Mỹ, triệt sản là biện pháp phổ biến nhất để kiểm soát sinh đẻ cho những cặp vợ chồng không muốn có con nữa. Tuy nhiên trong một số hoàn cảnh triệt sản lại cần được phục hồi nên phải phẫu thuật tái tạo ở cả nam và nữ là khá tốn kém, nhiều biến chứng và không phải bao giờ cũng thành công. Do đó bệnh nhân cần được tư vấn thuật thận trọng trước khi triệt sản và nên coi đó là biện pháp cuối cùng.

Cắt ống dẫn tinh là thủ thuật an toàn, đơn giản, khi đó ống dẫn tinh được tách ra và thắt lại qua vết rạch ở bìu có gây tê tại chỗ. Nghiên cứu theo dõi dài hạn những nam giới đã thắt ống dẫn tinh thấy không có nguy cơ cao hơn bị bệnh tim mạch. Vài nghiên cứu cho thấy có thể liên quan với ung thư tuyến tiền liệt nhưng bằng chứng còn mỏng manh và không chắc chắn.

Triệt sản ở phụ nữ hiện được thực hiện qua soi ổ bụng làm đông điện hai bên hoặc cặp vòng nhựa tổng hợp lên ống dẫn trứng hoặc thực hiện qua vết rạch nhỏ mở ổ bụng theo kiểu rạch cắt vòi trứng Pomeroy, ưu điểm của soi ổ bụng là đau sau mổ nhẹ nhàng nhất, vết rạch nhỏ và sớm bình phục, ưu điểm của rạch nhỏ mở ổ bụng là có thể tiến hành bằng các dụng cụ phẫu thuật chuẩn dưới gây mê toàn thân. Tuy nhiên lại bị đau hơn nhiều sau mổ, thời gian bình phục dài hơn. Tỷ lệ thất bại sau thắt vòi trứng là xẩp xỉ 0,5%, cần thảo luận về việc này với người phụ nữ trước khi mổ. Một số nghiên cứu thấy có nguy cơ tăng bị kinh không đều là biến chứng lâu dài của thắt ống dẫn trứng song kết quả của các nghiên cứu khác nhau thấy không chắc chắn.


Bài mới nhất

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Triệt sản (chỉ định và điều trị)

Vài nghiên cứu cho thấy có thể liên quan với ung thư tuyến tiền liệt nhưng bằng chứng còn mỏng manh và không chắc chắn

Phá thai (chỉ định và điều trị)

Những biến chứng tiếp sau phá thai phạm pháp thường cần được chăm sóc cấp cứu chống ra máu, sốc nhiễm khuẩn hay thủng tử cung

Tránh thai sau giao hợp (chỉ định và điều trị)

Đặt dụng cụ tử cung tránh thai trong vòng 5 ngày sau giao hợp không chuẩn bị vào giữa vòng kinh cũng có thể tránh được thai, các dụng cụ tử cung mang đồng

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú, đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt, Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt