Dụng cụ tử cung (tránh thai)

Ngày: 9 - 12 - 2016

Những dụng cụ tử cung toàn bằng chất dẻo không cần phải thay sau một thời điểm đặc trưng cho từng loại và có một số phụ nữ đã dùng trong 10 năm hay hơn. Dụng cụ tử cung mang đồng phải được thay sau 8 năm để có hiệu quả cao nhất.

Hạn chế có thai một cách tự nguyện làm lợi cho những người phụ nữ, cho cả những người đàn ông và con cái của họ. Tránh thai cần đáp ứng được với tất cả mọi phụ nữ và nam giới trong tuổi sinh đẻ. Giáo dục về tránh thai và sự tiếp cận với các viên thuốc tránh thai hay dụng cụ tử cung là đặc biệt quan trọng đối với những nam nữ thanh niên dưới 20 tuổi và đối với những phụ nữ sau đẻ, sau sảy.

Giáo dục về bệnh lây truyền theo đường tình dục, đặc biệt AIDS cần đước tiến hành cho tất cả những ai có hoạt động tình dục song song song với việc thông báo rằng bao cao su dùng kèm với thuốc diệt tinh trùng có độ bảo vệ cao (nhưng không bảo vệ hoàn toàn) cho cả hai giới chống lại bệnh lây truyền theo đường tinh dục cũng như tránh thai. Dịch AIDS lan rộng trên thế giới đã tạo ra sự thay đổi xu hướng một cách có ý nghĩa sang sử dụng bao cao su cộng với thuốc diệt tinh trùng.

Các dụng cụ tử cung hay được sản xuất tại Mỹ là Progestasert (giải phóng progesteron vào buồng tử cung) và dụng cụ tử cung mang đồng TCu 380A. Một số dụng cụ tử cung toần bằng nhựa (Lippes Loop) cũng vẫn còn được dùng. Tỉ lệ thất bại của đá số các dụng cụ tử cung là 1- 2%; cơ chế tác dụng được nghĩ là có liên quan là làm giảm sự thụ tinh do tác dụng lên di động tính của tinh trùng, phát triển bất thường của trứng trong vòi trứng để thụ tinh.

Những dụng cụ tử cung toàn bằng chất dẻo không cần phải thay sau một thời điểm đặc trưng cho từng loại và có một số phụ nữ đã dùng trong 10 năm hay hơn. Dụng cụ tử cung mang đồng phải được thay sau 8 năm để có hiệu quả cao nhất. Những dụng cụ tử cung phóng progesteron cần phải được thay hàng năm nhưng lại có lợi là đỡ gây co thắt và làm giảm huyết kinh.

Dụng cụ tử cung tránh thai thường là biện pháp tránh thai mĩ mãn cho những phụ nữ đã có con sống và chỉ sinh hoạt tình dục với một người. Không chuộng dùng đối với những phụ nữ trẻ chưa có con vì có đe dọa lớn về viêm tiểu khung và gây vô sinh sau này.

Đặt dụng cụ tử cung

Dụng cụ tử cung có thể đặt trong khi hành kinh hoặc sau khi hành kinh, vào giữa vòng kinh để tránh làm tổ của trứng hay muộn hơn trong vòng kinh nếu người phụ nữ chưa có thai. Nhiều nhà lâm sàng đợi 6 - 8 tuần sau đẻ mới đặt dụng cụ tử cung cho sản phụ. Đặt dụng cụ tử cung trong thời gian cho con bú dễ có nguy cơ thủng tử cung hơn hay dụng cụ tử cung bị ghim vào tử cung. Có thể chấp nhận được việc đặt dụng cụ tử cung ngay sau nạo nếu không có nhiễm khuẩn và không có điều kiện theo dõi sau một tháng rồi mới đặt, nếu không, đợi 4 tuần sau nạo hãy đặt thì tốt hơn. Vì có nguy cơ viêm tiểu khung, người ta thường cho một liều duy nhất doxycyclin dự phòng 1 giờ trước khi đặt.

Các chống chỉ định và các biến chứng

Có thai

Dụng cụ tử cung có thể được đặt trong 5 ngày sau một giao hợp không bảo vệ vào giữa vòng kinh coi như một biện pháp tránh thai sau giao hợp. Không được đặt dụng cụ tử cung vào buồng của một tử cung có thai.

Nếu xảy ra có thai là do dụng cụ tử cung thất bại thì sẽ có nhiều xác suất sảy thai tự nhiên nếu dụng cụ tử cung vẫn ở nguyên chỗ cũ (50%) hơn là khi dụng cụ tử cung bị tuột ra ngoài (25%). Sẩy thai tự nhiên khi dụng cụ tử cung vẫn ở nguyên tại chỗ sẽ có nguy cơ cao nhiễm khuẩn nặng và có thể tử vong nhanh. Phụ nữ đặt dụng cụ tử cung mà có thai cần phải lấy dụng cụ tử cung ra nếu trông thấy dây của dụng cụ. Nếu muốn, có thể lấy dụng cụ ra khi sẩy, nếu không nhìn thấy dây vòng và người phụ nữ muốn giữ thai thì cần thông báo cho người phụ nữ biết rằng chị ta sẽ có nguy cơ nghiêm trọng bị nhiễm khuẩn, có khi chết cùng với loại thai nghén như thế. Cũng cần thông tin cho chị ấy rõ rằng bất cứ triệu chứng nào giống cảm cúm như sốt, đau cơ, đau đầu hay buồn nôn thì phải đuợc y tế quan tâm ngay vì có thể có sảy thai nhiễm khuẩn.

Vì tỷ lệ chửa ngoài tử cung trên chửa trong tử cung tăng lên đối với những người đặt dụng cự tử cung nên các nhà lâm sàng cần phát hiện những khối ở phần phụ khi mới có thai và bao giờ cũng phải xét nghiệm kiểm tra mô sẩy xem có rau không.

Nhiễm khuẩn tiểu khung

Trong tháng đầu đặt dụng cụ tử cung có tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiểu khung. Nguy cơ viêm nhiễm tiểu khung có vẻ trước hết là có liên quan với nguy cơ mắc những bệnh viêm nhiễm lây truyền theo đường tình dục. Nguy cơ nhiễm khuẩn vào lúc đặt dụng cụ có thể được giảm đi nếu dùng kháng sinh dự phòng, như 200mg doxycyclin chẳng hạn. Mối đe dọa của bệnh nhiễm khuẩn tiểu khung lây truyền theo đường tình dục chủ yếu có thể được loại trừ nếu hạn chế chỉ dùng dụng cụ tử cung cho phụ nữ đã có con và chỉ quan hệ tình dục với một người duy nhất. Việc sử dụng dụng cụ tử cung cho những người trẻ chưa có con là không thuận lợi, do làm tăng nguy cơ của bệnh lây truyền theo đường tình dục và đe doạ cho khả năng sinh sản sau này.

Bảng. Các chống chỉ định sử dụng dụng cụ tử cung

Các chống chỉ định tuyệt đối

Có thai.

Bệnh viêm tiểu khung cấp tính hoặc bán cấp tính hay viêm cổ tử cung có mủ.

Các chống chỉ định tương đối

Tiền sử có bệnh viêm tiểu khung hay chừa ngoài tử cung.

Quan hệ tình dục với nhiều người.

Chưa đẻ lần nào, do sợ vô sinh sau này.

Không có điều kiện theo dõi dễ dàng.

Rong kinh hay thống kinh nặng.

Ung thư cổ hay thân tử cung

Tử cung có kích cỡ hay hình thù bất thường, trong đó có u xơ tử cung làm biến dạng buồng từ cung.

Bệnh van tim.

Bệnh dái tháo đường.

Rong kinh và thống kinh nặng

Dụng cụ tử cung có thể gây hành kinh nặng nề, chảy máu giữa vòng kinh gây co thắt, vì thế nó thường không phù hợp đối với những phụ nữ đã bị những vấn đề này từ trước. Tuy nhiên, những dụng cụ tử cung hay mang progesteron thông thường được thử dùng trong những trường hợp này vì nó thường làm giảm chảy máu và làm giảm đau đối với nhũng người dùng dụng cụ tử cung.

Tụt dụng cụ tử cung hoàn toàn hoặc tụt một phần

Tụt dụng cụ tử cung tự nhiên xảy ra trong 10 - 20% các trường hợp trong năm đầu. Hãy lấy ra tất cả các dụng cụ tử cung một khi nhìn thấy hoặc sờ thấy phần thân của dụng cụ ở lỗ cổ tử cung.

Mất dây dụng cụ tử cung

Nếu phần đuôi của dụng cụ tử cung trong ống cổ tử cung không nhìn thấy được thì cũng không rõ là vòng đã tụt, thủng tử cung và vòng chui vào ổ bụng hay chỉ đơn giản là dây tụt vào ống cố tử cung hay vào buồng tử cung do di chuyển của dụng cụ tử cung hay do tử cung có thai to lên. Một khi đã loại trừ có thai rồi, cần thăm dò dụng cụ tử cung bằng một que dò vô khuẩn hay một cái kìm dùng để tháo dụng cụ tử cung sau khi đã phong bế cạnh tử cung. Nếu không thấy được dụng cụ tử cung, siêu âm tiểu khung sẽ cho rõ dụng cụ tử cung làm mốc để xác định dụng cụ tử cung ở ngoài tử cung. Nếu dụng cụ tử cung nằm trong ổ bụng, thường phải lấy ra qua soi ổ bụng hoặc mở bụng. Dụng cụ tử cung mở (không khép kín) làm hoàn toàn bằng chất dẻo như Lippes Loop chẳng hạn, có thể cứ để lại trong tiểu khung mà không nguy hiểm gì nhưng những dụng cụ tử cung hình vòng khép kín có thể xoắn vào quai ruột còn dụng cụ tử cung chứa đồng có thể gây phản ứng mô và dính dấp.

Thủng tử cung có vẻ ít gặp hơn nếu đặt từ tốn, cẩn thận theo đúng hướng dẫn áp dụng cho từng loại dụng cụ tử cung.

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.