Phá thai (chỉ định và điều trị)

Ngày: 10 - 12 - 2016

Những biến chứng tiếp sau phá thai phạm pháp thường cần được chăm sóc cấp cứu chống ra máu, sốc nhiễm khuẩn hay thủng tử cung

Hạn chế có thai một cách tự nguyện làm lợi cho những người phụ nữ, cho cả những người đàn ông và con cái của họ. Tránh thai cần đáp ứng được với tất cả mọi phụ nữ và nam giới trong tuổi sinh đẻ. Giáo dục về tránh thai và sự tiếp cận với các viên thuốc tránh thai hay dụng cụ tử cung là đặc biệt quan trọng đối với những nam nữ thanh niên dưới 20 tuổi và đối với những phụ nữ sau đẻ, sau sảy.

Giáo dục về bệnh lây truyền theo đường tình dục, đặc biệt AIDS cần đước tiến hành cho tất cả những ai có hoạt động tình dục song song song với việc thông báo rằng bao cao su dùng kèm với thuốc diệt tinh trùng có độ bảo vệ cao (nhưng không bảo vệ hoàn toàn) cho cả hai giới chống lại bệnh lây truyền theo đường tinh dục cũng như tránh thai. Dịch AIDS lan rộng trên thế giới đã tạo ra sự thay đổi xu hướng một cách có ý nghĩa sang sử dụng bao cao su cộng với thuốc diệt tinh trùng.

Từ năm 1973, khi có luật phá thai ở Mỹ, tỉ lệ tử vong người mẹ đã giảm xuống rõ rệt bởi vì các trường hợp phá thai phạm pháp và tự phá thai đã được thay thế bằng những phương pháp y học an toàn hơn. Phá thai trong quý đầu có thai nghén được tiến hành bằng cách hút và gây vô cảm tại chỗ. Một kỹ thuật tương tự là nong cổ tử cung và lấy thai ra được dùng vào quý hai, gây mê toàn thân hay vô cảm tại chỗ. Những kỹ thuật bơm dung dịch muối ưu trương vào buồng ối, hoặc các prostaglandin cũng có thể dùng khi có thai trên 18 tuần tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng nhưng khó khăn hơn cho người bệnh. Phá thai ít khi được tiến hành sau tuần lễ thứ 20 tính từ ngày kinh cuối cùng.

Thường người ta nghĩ rằng thai bắt đầu có thể sống được vào quãng 24 tuần tuổi thai, Phá thai trong pháp luật có tỉ lệ tử vong 1/100.000. Các tỉ lệ mắc bệnh và tử vong tăng cùng với tuổi thai. Thông thường tại Mỹ, phá thai trước tuần 12 của thai nghén chiếm 90% và chỉ 3 - 4% sau 17 tuần. Mọi cố gắng cần được đặt ra để tiếp tục phá thai sớm hơn.

Những biến chứng do phá thai gây ra gồm sót thai, rau (thường kèm theo nhiễm khuẩn và chảy máu nặng) và chửa ngoài dạ con. Những phụ nữ có sốt, ra huyết hay đau bụng sau phá thai cần được khám: thường cần cho các kháng sinh phổ rộng và hút lại buồng tử cung. Khuyên nằm viện nếu viêm phần phụ cấp tính đòi hởi phải tiêm kháng sinh vào tĩnh mạch.

Những biến chứng tiếp sau phá thai phạm pháp thường cần được chăm sóc cấp cứu chống ra máu, sốc nhiễm khuẩn hay thủng tử cung. Cần cho globulin miễn dịch Rh sau khi phá thai đối với tất cả những phụ nữ có Rh âm tính. Cần bàn kỹ lưỡng việc tránh thai và cung cấp các biện pháp tránh thai hay thuốc viên tránh thai vào dịp phá thai. Đối với những phụ nữ có tiền sử bệnh viêm tiểu khung, chỉ định kháng sinh dự phòng một liều duy nhất doxycyclin 200mg uống 1 giờ trước khi tiến hành biện pháp hay dung dịch penicillin G 1 triệu đơn vị tiêm tĩnh mạch 30 phút trước. Thai vào qúy II, dùng cefazolin 1 g tiêm tĩnh mạch 30 phút trước khi tiến hành thủ thuật. Nhiều nhà lâm sàng chỉ định tetracyclin 500mg trong 4 lần/ngày trong 5 ngày sau thủ thuật cho tất cả các bệnh nhân.

Những di chứng lâu dài của phá thai liên tiếp cũng đã được nghiên cứu, nhưng cũng không thấy có ý nghĩa gì về tăng tỉ lệ chết thai hay đẻ non sau này. Có cảm giác rằng những di chứng đối nghịch có thể được giảm thiểu bằng phá thai sớm để chỉ cần nong cổ tử cung ít hay có thể dùng la-mi-ne để cổ tử cung mở từ từ.

Thuốc uống phá thai, mifepristone (Ru 486) dùng liều duy nhất 600mg, tiếp prostaglandin đặt âm đạo hay tiêm bắp thịt vào 36 - 48 giờ sau, có thể đạt được 95% thai ra tự nhiên, tuổi thai 8 tuần, với biến chứng tối thiểu.

Thuốc tác dụng như một kháng hormon đối với progesteron và như một glucocorticoid không gây suy tuyến thượng thận. Có thể gặp cách sử dụng này trong lâm sàng điều trị bệnh Cushing, u màng não, ung thư vú có thụ thể progesteron, lạc nội mạc tử cung và một số nhiễm virus cũng như trong khởi động sự chín muồi của cổ tử cung gây chuyển dạ. Thường sẵn có ở một số nước châu Ằu nhưng chưa thấy sử dụng ở Mỹ.

Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú, đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt, Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.