Sa tử cung
Đối với những phụ nữ lớn tuổi, không muốn giao hợp, bịt tắc một phần âm đạo là phẫu thuật đơn giản và có hiệu quả, Treo tử cung vào thành bụng
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Sa tử cung thường hay xảy ra nhất và coi là hậu quả muộn của cuộc đẻ có tổn thương tới đáy chậu (đặc biệt ngang cổ tử cung và các dây chằng tử cung - cùng) Những vết rách sản khoa không được sửa chữa của cơ nâng và đáy chậu sẽ làm yếu thêm. Sự làm giảm cấu trúc chậu hông do tuổi tác và yếu bẩm sinh có thể làm tăng thêm chứng sa tử cung.
Sa ít là khi chỉ một phần tử cung sa xuống trong âm đạo, sa trung bình là khi thân tử cung sa xuống đến tận âm môn và cổ tử cung bị đẩy xuống hơi lòi ra ngoài. Trong trường hợp sa nhiều toàn bộ cổ tử cung và tử cung lòi ra khỏi âm môn và âm đạo bị lộn bít tất. Không có khả năng đi bộ một cách thoải mái bởi vì có sự lồi ra hoặc không thoải mái do có một khối ở âm đạo. Chỉ định điều trị ngoại khoa nên được cân nhắc.
Loại phẫu thuật dựa vào mức độ sa và tuổi bệnh nhân và mong muốn của người bệnh về kinh nguyệt, thai nghén và giao hợp. Quy trình đơn giản nhất, hiệu quả nhất là cắt tử cung đường âm đạo với việc hiệu chỉnh sa bàng quang, sa trực tràng thích hợp. Nếu bệnh nhân mong muốn có thai, cắt một phần cổ tử cung với việc tạo nếp các dây chằng chính có thể cố gắng làm. Đối với những phụ nữ lớn tuổi, không muốn giao hợp, bịt tắc một phần âm đạo là phẫu thuật đơn giản và có hiệu quả. Treo tử cung vào thành bụng hoặc cố định thành bụng sẽ thất bại trong điều trị sa tử cung.
Một vòng nâng âm đạo vừa khít (ví dụ loại vòng có thể bơm căng phồng được, vòng nâng Gellhom) có thể làm giảm sa nếu phẫu thuật bị từ chối hoặc chống chi định.
Bài viết cùng chuyên mục
Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung
Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.
Hội chứng mãn kinh
Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.
Tránh thai dựa trên cơ sở biết các thời kỳ dễ có thai
Cơ sở của phương pháp là tự người phụ nữ quan sát thấy chất nhầy cổ tử cung tăng, trong và tăng đàn hồi, đau bụng khó chịu một thời gian ngắn vào giữa vòng kinh
Thuốc tránh thai uống
Thuốc tránh thai uống liều thấp không có chống chỉ định dùng kéo dài đối với những phụ nữ 35 - 40 tuổi, không hút thuốc lá và không có chống chỉ định gì
Lạc nội mạc tử cung
Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt
Thuốc tránh thai tiêm và cấy: các progestin tác dụng kéo dài
Một bộ gồm 6 nang nhỏ bằng silastic cấy vào dưới da ở mặt trong cánh tay, Chúng giải phóng hàng ngày và tác dụng tránh thai trong 5 năm
Sa sinh dục
Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu
Chảy máu bất thường tiền mãn kinh
Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.
Viêm âm đạo
Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.
Các khối u buồng trứng
Một đợt ngăn ngừa phóng noãn trong 2 tháng bằng viên thuốc tránh thai làm cho các nang cơ năng biến mất
Dụng cụ tử cung: tránh thai
Những dụng cụ tử cung toàn bằng chất dẻo không cần phải thay sau một thời điểm đặc trưng cho từng loại và có một số phụ nữ đã dùng trong 10 năm hay hơn
Ung thư âm hộ
Cũng như những tổn thương tế bào lát của cổ tử cung, sự loạn sản ở các mức nặng nhẹ khác nhau của âm hộ bây giờ đã được nhận biết, Hệ thống phân độ về sự tạo u
Chảy máu âm đạo sau mãn kinh
Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.
Nang và áp xe tuyến Bartholin
Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích
Không phóng noãn liên tục
Ở những bệnh nhân béo bệu có buồng trứng đa nang, điều trị bằng cách làm giảm cân thường có hiệu quả, giảm mỡ cơ thể sẽ làm giảm thấp sự chuyển đổi androgen thành estron
U xơ tử cung
Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú, đẻ khó.
Giao hợp đau
Giao hợp đau có thể do viêm âm hộ, hay âm đạo, gây ra co thít âm đạo, màng trinh không giãn hoàn toàn, âm đạo không được bôi trơn đầy đủ.
Thống kinh
Thuốc được dùng khi bắt đầu ra máu kinh sẽ tránh được việc dùng thuốc cẩu thả khi mới có thai, Thuốc được dùng tiếp tục trên cơ sở 2, 3 ngày
Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung
Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng
Triệt sản: chỉ định và điều trị
Vài nghiên cứu cho thấy có thể liên quan với ung thư tuyến tiền liệt nhưng bằng chứng còn mỏng manh và không chắc chắn
Vô sinh
Những lần khám tư vấn cá nhân được hướng dẫn, đề xuất một xử lý tâm lý tình dục nếu không làm phiền hà hoặc đáng phàn nàn
Polip cổ tử cung
Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt, Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung
Phá thai: chỉ định và điều trị
Những biến chứng tiếp sau phá thai phạm pháp thường cần được chăm sóc cấp cứu chống ra máu, sốc nhiễm khuẩn hay thủng tử cung
Ung thư niêm mạc tử cung: ung thư thân hoặc đáy tử cung
Những phiến đồ Papanicolaou của cổ tử cung thỉnh thoảng cũng cho thấy được những tế bào niêm mạc tử cung không điển hình nhưng chúng không luôn là công cụ để chẩn đoán.
Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung
Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung
