- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh tai mũi họng
- Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản
Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản
Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Các tuyến nước bột gồm hai tuyến mang tai lớn, hai tuyến dưới hàm, một vài tuyến ở dưới lưỡi và có 600 - 1000 tuyến nước bọt nhỏ nằm rải rác ở phần trên của đường tiêu hóa - hô hấp.
Viêm cấp do loạn sản tuyến nước bọt
Viêm tuyến nước bọt
Nhiễm khuẩn cấp tuyến nước bọt của người lớn phần lớn ở tuyến mang tai và tuyến dưới hàm.
Thể hiện điển hình bằng sưng cấp tính của tuyến, đau tăng và sưng tăng lên khi ăn. Có thể cảm giác đau và ban đỏ ở lỗ mở ống dẫn, mủ thường có thể ra từ ống khi xoa bóp. Viêm tuyến nước bọt thường xuất hiện trong bệnh cảnh mất nước hoặc kết hợp với đau ốm kéo dài. Hội chứng Sjogren về cơ bản cũng có ảnh hưởng rõ như vậy.
Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát. Vi khuẩn thường gặp trong mủ tuyến nước bọt là tụ cầu vàng. Việc điều trị bao gồm tiêm kháng sinh tĩnh mạch, có thể dùng nafcillin (1g tiêm tĩnh mạch mỗi 4 - 6 giờ một lần) và cũng lưu ý tới việc làm tăng tiết nước bọt bao gồm bù nước, đắp gạc ấm và tăng tiết nước bọt (như nhỏ giọt nước chanh), xoa bóp vùng tuyến. Điều trị thất bại trong các trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ áp xe, chít hẹp ống, sỏi hoặc khối u gây nên sự tắc nghẽn. Siêu âm hoặc CT scan có thể giúp xác định chuẩn đoán. Tốt nhất nên tránh chụp X quang tuyến nước bọt trong trường hợp cấp tính.
Sỏi tuyến nước bột
Sỏi thường tạo nên ở ống Wharton (dẫn lưu tuyến dưới hàm) nhiều hơn là ở ống Stensen (dẫn lưu tuyến mang tai). Trên lâm sàng bệnh nhân có the thấy đau và sưng khu trú, thương có tiền sử viêm tuyến nưốc bọt cấp tái phát, sỏi ở ống Wharton thường lớn và cản quang, trong khi đó sỏi ở ống Stensen thường không cản quang và nhỏ hơn. sỏi rất gần với chỗ đổ ra của ống Wharton, có thể sờ thấy ở phía trước sàn miệng và được lấy bỏ theo đường trong miệng bằng nong hoặc rạch đầu trong của ống. Sỏi ở đầu ngoài của ống phải được kẹp tạm thời để giữ cho sỏi không trở lại tuyến dưới hàm khi thao tác lấy ra. Những viên sỏi cách ống trên 1,5cm sẽ quá gần với dây lưỡi khó lấy ra an toàn bằng phưong pháp này.
Tương tự, nong ống Stensen vị trí ở niêm mạc má đối diện với răng hàm thứ hai, có thể làm mất thắt hẹp ở đầu trong hoặc cho phép sỏi nhỏ đi qua. Vị trí của dây thần kinh mặt làm cho việc lấy sỏi bằng đường miệng của tuyến mang tai không an toàn.
Sự tái phát của các giai đoạn viêm tuyến nước bọt dẫn tới thắt hẹp và nhiễm khuẩn mạn tính. Nếu sự tắc nghẽn không thể giải quyết bằng lấy bỏ hoặc nong thì có thể cần cắt bỏ tuyến.
Một số có thể thành công trường hợp chọn lọc tán sỏi bằng áp điện shock.
Viêm mạn tính và các rối loạn thâm nhiễm của tuyến nước bọt
Các rối loạn thâm nhiễm có thể gây to tuyến mang tai một bên hoặc hai bên. Bệnh Sjogren và bệnh sarcoid là những ví dụ của bệnh tổ chức hạt và bệnh của tổ chức lympho biểu mô. Các rối loạn chuyển hóa gồm những người uống rượu, đái tháo đường và thiếu vitamin có thể gây tuyến to lan tỏa. Một số thuốc làm tuyến mang tai to ra gồm thioureas, iot và thuốc tác dụng lên tiết acetylcholin (như phenothiazin) làm kích thích chảy nước bọt và làm cho nước bọt nhày hơn.
Bài viết cùng chuyên mục
Các rối loạn thanh quản hay gặp
Nếu người lớn bị viêm thanh thiệt được phát hiện sớm có thể tránh được đặt ống nội khí quản, trong những trường hợp này theo dõi nồng độ bão hòa oxy huyết cầu tố bằng máy đo oxy.
Các khối u lành tính trong mũi
Ù nhú đảo ngược là u lành tính thường xuất phát ở thành bên của mũi, biểu hiện bằng tắc mũi một bên, đôi khi chảy máu.
Cắt amidan
Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.
Các nhiễm khuẩn vùng cổ sâu
Nền tảng của điều trị bao gồm bảo đảm thông suốt đường thở, tiêm truyền kháng sinh và chích rạch dẫn lưu đường thở có thể được bảo đảm bằng phương pháp đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.
Bệnh nấm mucor mũi nội sọ
Triệu chứng khởi đầu có thể giống như viêm xoang nhiễm khuẩn, mặc dầu triệu chứng đau mặt thường dữ dội hơn. Khám niêm mạc mũi cố vẻ biểu hiện màu đen, và hoại tử chính ở cuốn dưới.
Bệnh u hạt Wegener, bệnh tăng tế bào lưới đa hình thái, bệnh sarcoid
Bệnh sarcoid cũng thường biểu hiện ở xoang và triệu chứng lâm sàng cũng tương tự. Sinh thiết thấy tổ chức hạt không hoại tử.
Bệnh lý tai giữa
Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.
Chấn thương mũi
Nghĩ tới gãy xương khi sờ thấy lạo xạo hoặc thấy những mảnh xương di động. Chảy máu và đau thường gặp, cũng như những tụ máu ở phần mềm (dấu hiệu mắt đen).
Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ
Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.
Viêm tiền đình do mũi
Điều trị đầy đủ nhiễm khuẩn rất quan trọng để ngăn chặn nhiễm khuẩn ngược dòng qua đường tĩnh mạch vào xoang tĩnh mach hang và vào nôi sọ.
U tuyến nước bọt
Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Nghe kém tiếp nhận: bệnh lý tai trong
Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.
Viêm lưỡi và đau lưỡi
Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.
Viêm mũi do virus: cảm cúm
Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.
Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng
Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.
Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào
Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.
Các biểu hiện ở tai của bệnh AIDS
Các bệnh nhân AIDS thường phàn nàn có ảnh hưởng tới tai trong, nghe kém tiếp nhận thường gặp và một số trưồng hợp do nhiễm virus hệ thần kinh trung ương.
Các khối u ác tính vùng mũi họng và xoang
Ung thư biểu mô lát hay gặp nhất ở vùng giải phẫu này, đặc biệt hay gặp ở vùng mũi họng, ở đây nó thường hay gây tắc vòi nhĩ và viêm tai tiết dịch.
Bệnh nấm candida
Chẩn đoán thường không khó, những mảng trắng trong miệng gây đau trên nền xung huyết ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm nấm candida.
Tổn thương loét trong miệng
Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.
U thanh quản
Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.
Các bệnh của hệ thống thính giác và tiền đình trung ương
Chóng mặt do tổn thương trung ương có xu hướng thành mạn tính và nhẹ hơn là chóng mặt gặp trong các bệnh mê nhĩ.
Nghe kém: chẩn đoán và điều trị
Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.
Ù tai: bệnh lý tai trong
Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.
Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng
Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.
