Rối loạn chức năng khứu giác

2016-09-06 02:14 PM

Mất, giảm, biến dạng mùi hoặc vị giác được thông báo ở những bệnh nhân có rối loạn nội tiết, dinh dưỡng và thần kinh.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Sự hiểu biết về sinh lý của khứu giác kém hơn so'với các cảm giác đặc biệt khác, Các phân tử mùi phải truyền đến vòm mũi, tới mảnh sàng và hòa tan vào chất nhày bao phủ rễ của các tế bào nhận cảm. Sự bất thường về giải phẫu làm mất sự dẫn truyền tới các tế bào cảm nhận của dây thần kinh I là nguyên nhân hay ,gặp nhất của rối loạn chức năng khứu giác (giảm mùi hoặc mất mùi). Polip, biến dạng vách ngăn, các khối u trong mũi có thể là những yếu tố góp phần làm mất khả năng dẫn truyền của không khí tới mảnh sàng ở phần cao của mũi, nơi có các tế bào cảm nhận mũi. Rối loạn chức năng khứu giác thoáng qua thường đi sau các bệnh cúm, dị ứng mũi, viêm mũi lâu năm.

Khoảng 20% mất chức năng khứu giác là tự phát, mặc dầu nó thường theo sau nhiễm virus. Một số người cho rằng nên cho những bệnh nhân này dùng vitamin A và kẽm kéo dài, mặc dù có rất ít những cơ sở hỗ trợ cho việc uống thuốc này.

Các khối u thần kinh trung ương, đặc biệt các khối u có liên quan tới rãnh khứu giác hoặc thùy thái dương, có thể ảnh hưởng tới khứu giác.

Chấn thương vùng đầu chiếm dưới 5% các trường hợp giảm khứu giác.

Mất, giảm, biến dạng mùi hoặc vị giác được thông báo ở những bệnh nhân có rối loạn nội tiết, dinh dưỡng và thần kinh.

Rất nhiều thuốc cũng gây ra rối loạn này. Việc đánh giá rối loạn chức năng khứu giác gồm tiền sử bệnh tật, các thuốc đã dùng cũng như khám thực thể, chú trọng vào mũi và hệ thần kinh. Hầu hết các phòng khám lâm sàng không chuẩn bị các thử nghiệm về khứu giác, nhưng ở đây lại là một điều có ý nghĩa khi đánh giá xem bệnh nhân có nhận biết được bất kỳ mùi gì không.

Ngưỡng mùi nên được thử bằng cách tăng dần nồng độ. Chẳng hạn, dùng n-butyl alcohol (1 - butanolol) nồng độ 4% trong nước đã khử ion. Các dung dịch pha loãng 3:1 theo 12 bước tạo nên thử nghiệm đầu tiên với 46 ppm và nhiều nhất là 3055 ppm (ở 4%). Phân biệt mùi có thể được dùng trong test đã được chọn lọc chuẩn hóa.

Trong mất mùi vĩnh viễn nên lưu ý tới các thức ăn gia vị với hạt tiêu là những chất kích thích dây V cũng như các hóa nhận cảm mùi và việc sử dụng các thiết bị an toàn như việc dùng máy báo chống cháy, sử dụng điện tốt hơn sử dụng khí đốt trong nhà.

Bài viết cùng chuyên mục

Các biểu hiện ở tai của bệnh AIDS

Các bệnh nhân AIDS thường phàn nàn có ảnh hưởng tới tai trong, nghe kém tiếp nhận thường gặp và một số trưồng hợp do nhiễm virus hệ thần kinh trung ương.

Chảy máu mũi

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi trước có thể cầm bằng ép trực tiếp vào điểm chảy máu. Cánh mũi phải được ép chặt ít nhất 10 phút.

Khàn tiếng và thở rít: bệnh lý thanh quản

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Cắt amidan

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm tiền đình do mũi

Điều trị đầy đủ nhiễm khuẩn rất quan trọng để ngăn chặn nhiễm khuẩn ngược dòng qua đường tĩnh mạch vào xoang tĩnh mach hang và vào nôi sọ.

Nghe kém tiếp nhận: bệnh lý tai trong

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Đau tai: chẩn đoán và điều trị

Đau tai dữ dội mà không tương ứng với phát hiện thực thể có thể do virus zona ở tai, đặc biệt khi có những phổng nước ở ống tai hoặc hố thuyền.

Bệnh lý vòi nhĩ: vòi eustachi

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Mở khí quản và mở màng nhẫn giáp

Chăm sóc sau mở khí quản là cần làm ẩm không khí đề phòng tạọ vảy bít tắc ống đặt khí quản, ống trong phải được rửa sạch vài lần trong ngày.

Viêm họng và viêm amidan

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Tổn thương loét trong miệng

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Bệnh lý ống tai

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Các khối u ác tính vùng mũi họng và xoang

Ung thư biểu mô lát hay gặp nhất ở vùng giải phẫu này, đặc biệt hay gặp ở vùng mũi họng, ở đây nó thường hay gây tắc vòi nhĩ và viêm tai tiết dịch.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh u hạt Wegener, bệnh tăng tế bào lưới đa hình thái, bệnh sarcoid

Bệnh sarcoid cũng thường biểu hiện ở xoang và triệu chứng lâm sàng cũng tương tự. Sinh thiết thấy tổ chức hạt không hoại tử.

Ù tai: bệnh lý tai trong

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm lưỡi và đau lưỡi

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Bệnh lý tai giữa

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

Liệt dây thanh âm

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Dị vật khí phế quản, thực quản

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Các khối u lành tính trong mũi

Ù nhú đảo ngược là u lành tính thường xuất phát ở thành bên của mũi, biểu hiện bằng tắc mũi một bên, đôi khi chảy máu.