Trứng cá đỏ
Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Rối loạn mạn tính ở mặt của những người trung niên và người già.
Các thành phần mạch máu lớn (đỏ da và dãn mạch) và có xu hướng đỏ bừng lên dễ dàng.
Đặc biệt có kết hợp tăng sản của các tuyến ở tổ chức phần mềm của mũi (trứng cá đỏ sùi mũi).
Có các thành phần dạng trứng cá (sẩn, mụn mủ và da nhờn).
Đánh giá chung
Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.
Dùng thuốc bôi corticosteroid có thể làm thay đổi da bình thường của mặt thành những thực thể có thể nhận dạng được gọi là viêm da quanh miệng và trứng cá đỏ.
Lâm sàng
Hai gò má, mũi, và cằm có lúc toàn bộ mặt có thể có màu hồng. Có thể nhìn thấy một vài hoặc không thấy các nhân trứng cá. Các sẩn viêm là chủ yếu và có thể có mủ. Có thể kết hợp với viêm da đầu. Bệnh nhân thường kêu ca về nóng và rát từng đợt mỗi khi mặt đỏ lên. Không hay gặp ở những bệnh nhân có kết hợp với bệnh ở mắt như viêm bờ mi, viêm kết mạc. Đòi hỏi điều trị bằng kháng sinh.
Chẩn đoán phân biệt
Bệnh nhân trứng cá đỏ cần phân biệt với trứng cá thường bằng các yếu tố: tuổi, các thành phần mạch máu, và sự vắng mặt của nhân trứng cá. Ban da do brom và iod thường giống bệnh trứng cá đỏ nhưng hiếm gặp. Mầu hồng trong trứng cá đỏ do viêm và do dãn mạch tạo nên, và là dấu hiệu chỉ điểm cho chẩn đoán.
Điều trị
Điều trị bằng thuốc chỉ có tác dụng với các sẩn viêm, mụn mủ, và phần đỏ quanh chúng, Biện pháp duy nhất điều trị tốt cho hiện tuợng dãn mạch là dùng laser ánh sáng màu vàng như pulsed dye, hoặc laser màu đồng. Trứng cá sùi mũi chỉ đáp ứng điều trị bằng phẫu thuật.
Biện pháp đíều trị tại chỗ
Metronidazol 0,75% bôi 2 lần/ngày là loại thuốc bôi được chọn để điều trị trứng cá. Đôi khi có thể dùng thuốc bôi steroid loại nhẹ như hydrocortison 1% hoặc aclometason dipropionat 0,05% trong tuần đầu của điều trị. Nếu như không chịu được metrondazol, có thể dùng clindamycin. Erythromycin cũng có tác dụng tốt. Bệnh đáp ứng sau 5 - 8 tuần điều trị.
Biện pháp toàn thân
Tetracyclin hoặc erythromycin 250 - 500mg x 2 lần/ ngày uống khi đói, nên dùng khi không đáp ứng với thuốc bôi. Isortretinoin có thể có giá trị khi các biện pháp điều trị khác bị thất bại. Liều 0,5 - 1mg/kg/ngày uống trong 12 - 28 tuần.
Metronidazol 250 x 2 lần/ngày trong 3 tuần, có thể có giá trị nhưng hiếm khi cần. Tác dụng phụ có thể có, có thể có tác dụng giống disulfiram khi bệnh nhân dùng rượu.
Tiên lượng
Bệnh trứng cá đỏ có xu hướng tồn tại ngoan cố. Với chế độ điều trị như trên, bệnh có thể được điều trị đúng.
Bài viết cùng chuyên mục
Bệnh nấm candida da và niêm mạc
Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.
Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị
Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.
Viêm da dạng herpes
Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.
Bệnh nấm móng
Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.
Hồng ban ly tâm mãn tính
Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.
Trứng cá thường
Bệnh hay gặp hơn và cũng thường nặng hơn ở nam giới. Trái với quan niệm của dân chúng, bệnh không tự khỏi khi trưởng thành. Nếu không được điều trị, bệnh tồn tại đến tuổi 40, 50 hoặc thậm chí tuổi 60.
Ghẻ: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương đặc trưng có thể gặp ở núm vú phụ nữ và như là các mụn nước có thể thấy ở mông. Viêm da mủ thường là dấu hiệu biểu hiện của bệnh.
Viêm da bong vảy: chứng đỏ da tróc vảy
Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.
Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh
Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.
Loét cẳng chân thứ phát sau thiểu năng tĩnh mạch
Bệnh nhân thường có một tiền sử lâu dài bị thiểu năng tĩnh mạch. Viêm da thường xuất hiện sau phù nề mạn tính, và thường rất ngứa.
Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.
Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt
Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.
Vảy phấn hồng Gibert
Các thương tổn cổ điển của vảy phấn hồng Gibert không có biểu hiện như vậy. Lang ben, phát ban do virus, và dị ứng thuốc có thể giống vảy phấn hồng Gibert.
Viêm da do ánh nắng
Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.
Ung thư sắc tố
Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.
Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.
Bệnh chấy rận
Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Hồng ban nút
Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.
Bệnh mày đay và phù mạch
Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.
Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính
Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.
Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ
Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.
Chẩn đoán các bệnh lý da
Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.
Rối loạn sắc tố da
Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.
Viêm da dị ứng tiếp xúc
Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.
Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị
Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.
