- Trang chủ
- Sách y học
- Bệnh học nhi khoa
- Đặc điểm hệ tuần hoàn trẻ em
Đặc điểm hệ tuần hoàn trẻ em
Tim của trẻ sơ sinh tương đối to hơn so với trẻ lớn và chiếm 0,8% trọng lượng cơ thể. Sau 1 tuổi, sự phát triển của tim tỷ lê thuận với sự phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ và chiếm 0,5% trọng lượng cơ thể.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đặc điểm tuần hoàn rau thai và tuần hoàn sau đẻ
Tuần hoàn bào thai
Tuần hoàn rau thai được hình thành từ cuối tháng thứ 2, tiếp tục phát triển và tổn tại tới lúc sau đẻ.
Tuần hoàn rau thai không tách biệt hoàn toàn thành 2 vòng: đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn, vì chúng thông với nhau qua:
Lỗ Botal ở vách liên nhĩ (lỗ bầu dục).
Ống Botal (ống động mạch) nối động mạch chủ với động mạch phổi.
Do vây, máu đi nuôi bào thai là máu pha trộn.
Tuần hoàn sau đẻ
Từ lúc cắt rốn, vòng đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn mới thực sự được tách biệt nhau do:
Ống Botal dần dần tắc lại vào tuần thứ 6 - 11 sau đẻ để trở thành dây chằng động mạch chủ.
Lỗ Botal khép kín dần vào khoảng thời gian từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 7 sau đẻ.
Trẻ bắt đầu thở, phổi bắt đầu thực hiện chức năng trao đổi khí.
Máu đi nuôi cơ thể là máu động mạch.
Đặc điểm hình thể của tim và mạch máu
Tim
Tim của trẻ sơ sinh tương đối to hơn so với trẻ lớn và chiếm 0,8% trọng lượng cơ thể. Sau 1 tuổi, sự phát triển của tim tỷ lê thuận với sự phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ và chiếm 0,5% trọng lượng cơ thể.
Vị trí, tư thế tim: Những tháng đầu tim nằm ngang, nằm cao, nằm gần giữa lổng ngực hơi lêch sang trái; khi 1 tuổi tim nằm nghiêng theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái; sau 4 tuổi tư thế của tim giống như người lớn.
Cơ tim: Trẻ sơ sinh, thành tâm thất phải có độ dầy gần bằng thành tâm thất trái (khoảng 5mm). Sau 14 năm phát triển, thành tâm thất trái tăng thêm được 5 mm, còn thành tâm thất phải chỉ tăng thêm được 1 mm. Trẻ càng nhỏ cơ tim càng yếu, do vậy khi có tăng gánh dễ bị suy tim.
Diên tim (chụp thẳng) trên X quang của trẻ sơ sinh chiếm 50%, trẻ lớn chiếm dưới 50% so với đường kính ngang (bên - bên) của lổng ngực.
Mạch máu
Lòng động mạch chủ và động mạch phổi ở trẻ em thay đổi theo tuổi:
Trước 10 - 12 tuổi: Động mạch phổi > Động mạch chủ.
Từ 10 - 12 đến tuổi dậy thì: Động mạch phổi = Động mạch chủ.
Sau tuổi dậy thì: Động mạch phổi < Động mạch chủ.
Kích thước lòng động mạch chủ và kích thước buổng tim (tính bằng mm) phát triển không đổng đều theo lứa tuổi:
Trẻ sơ sinh: 20 : 25
Trẻ 10 tuổi: 56 : 140
Trẻ ở tuổi dậy thì: 61 : 260
Mao mạch ở trẻ em càng nhỏ tuổi thì càng rộng hơn tương đối so với trẻ lớn và đối với mao mạch phổi, thận, da, ruột thì rộng hơn một cách tuyêt đối.
Những đặc điểm trên nhằm đáp ứng được nhu cầu về dưỡng khí, về dinh dưỡng ở trẻ nhỏ cao hơn so với người lớn và tạo n ên huyết áp thấp, da đỏ hổng song cũng dễ gây truỵ mạch.
Các chỉ số cơ bản về huyết động
Tần số mạch
Trẻ càng nhỏ tuổi mạch càng nhanh, càng dễ thay đổi khi kích thích, khi gắng sức (bú, khóc, sốt). Vì vậy cần lấy mạch lúc yên tĩnh hay lúc tr ẻ ngủ.
Bảng: Tần số mạch của trẻ em trong các lứa tuổi.
|
Lứa tuổi |
Tần số mạch |
|
Sơ sinh |
140-160 |
|
6 tháng |
130- 135 |
|
12 tháng |
120 - 125 |
|
2 tuổi |
110- 115 |
|
3 tuổi |
105 - 110 |
|
4 tuổi |
100 - 105 |
|
5 tuổi |
100 |
|
6 tuổi |
90- 95 |
|
7 tuổi |
85 - 90 |
|
8-11 tuổi |
80- 85 |
|
12-13 tuổi |
75 - 80 |
|
14-16 tuổi |
70- 75 |
Huyết áp động mạch
Trẻ càng nhỏ huyết áp đông mạch càng thấp: - Huyết áp tối đa:
Trẻ sơ sinh: 70mmHg
Trẻ 1 tuổi (12 tháng): 80mmHg
Trẻ > 1 tuổi tính theo công thức:
Huyết áp max = 80 + 2n
(n: số tuổi)
Huyết áp tối thiểu:
Huyết áp min = Huyết áp Max/2 + K
Hê số K phụ thuộc vào tuổi:
Trẻ < 7 tuổi : 10.
Trẻ 7-12 tuổi: 15.
Trẻ 13-15 tuổi: 20.
Vòng tuần hoàn
Vòng tuần hoàn ở trẻ em ngắn hơn so với người lớn. Thời gian để thực hiên được trọn một vòng tuần hoàn là:
Trẻ sơ sinh: 12 giây.
Trẻ 3 tuổi: 15 giây.
Trẻ 14 tuổi: 18 giây.
Người lớn: 22 giây.
Khối lượng máu tuần hoàn
Khối lượng máu tuần hoàn tính theo cân nặng ở trẻ em lớn hơn người lớn:
Trẻ sơ sinh: 110-150ml/kg.
Trẻ dưới 1 tuổi: 75-100ml/kg.
Trẻ từ 1 tuổi trở lên: 50-90ml/kg.
Bài viết cùng chuyên mục
Nhiễm trùng tụ cầu ở trẻ em
Tụ cầu gây nhiễm trùng có hai loại, Staphylococcus aureus và coagulase negative staphylococci, nhiễm trùng do coagulase negative staphylococci ít gặp.
Chăm sóc trẻ em thiếu máu do thiếu sắt
Thiếu máu là tình trạng giảm lượng hemoglobin (Hb) hay khối hổng cầu trong một đơn vị thể tích máu, hemoglobin hay khối hổng c ầu thấp hơn giới hạn bình thường của người cùng lứa tuổi.
Co giật sơ sinh
Khác với trẻ lớn, co giật ở trẻ sơ sinh thường có nguyên nhân rõ ràng, do đó tìm và điều trị nguyên nhân là rất quan trọng khi xử trí co giật ở trẻ sơ sinh.
Viêm bàng quang chảy máu ở trẻ em
Nguyên nhân chủ yếu là do virut, biến chứng của việc dùng các thuốc ức chế miễn dịch, ghép tuỷ, hãn hữu do một số loại vi khuẩn như liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn.
Tham vấn cho bà mẹ về các vấn đề bú mẹ
Nếu trẻ không được bú mẹ, tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ và phục hổi sự tiết sữa. Nếu bà mẹ muốn, nhân viên tham vấn sữa mẹ có thể giúp bà tháo gỡ khó khăn và bắt đầu cho bú mẹ trở lại.
Loạn sản phổi ở trẻ em
Lọan sản phổi còn gọi là bệnh phổi mạn tính, biểu mô các phế quản nhỏ bị họai tử và sừng hóa, giảm chất họat diện (surfactant), mô kẻ tăng sinh dạng sợi, hậu quả gây xơ hóa phổi.
Lõm lồng ngực bẩm sinh
Lõm lồng ngực bẩm sinh là một dị tật thành ngực trong đó xương ức và các xương sườn dưới bị lõm về phía sau. Tỷ lệ trẻ trai / trẻ gái = 3/1. 90% các trường hợp có biểu hiện bệnh ở lứa tuổi 1 tuổi.
Phì đại tuyến hung ở trẻ em
Tuyến hung phì đại hay gặp nhất ở các trường hợp trung thất có khối mà không phải do hạch. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, hiếm gặp ở trẻ trên 4 tuổi.
Viêm não nhật bản ở trẻ em
Viêm não Nhật Bản là bệnh nhiễm trùng cấp tính hệ thần kinh trung ương do virus viêm não Nhật Bản gây ra, là một bệnh nặng, nguy cơ tử vong và di chứng cao.
Hướng dẫn tiếp nhận và sơ cứu khi cấp cứu
Một bệnh nhân được coi là ở trong tình trạng cấp cứu khi người đó bị rối loạn nghiêm trọng một hay nhiều chức năng sống, đe doạ gây tử vong. Do đó nhiệm vụ của người thầy thuốc cấp cứu tại tuyến cơ sở theo thứ tự ưu tiên.
Trầm cảm ở trẻ em
Sững sờ, hoang tưởng và ảo giác có thể gặp trong trầm cảm nặng. Nội dung hoang tưởng thường là có tội, không xứng đáng, bị truy hại hoặc không tồn tại.
Viêm mủ màng tim ở trẻ em
Viêm mủ màng ngoài tim nhanh chóng dẫn đến ép tim và tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm
Các thời kỳ phát triển của trẻ em
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Khác với người lớn, trẻ em là một cơ thể đang phát triển. Phát triển là sự lớn lên về khối lượng và sự trưởng thành về chất lượng (sự hoàn thiên về chức năng các cơ quan).
Viêm cầu thận cấp tiên phát ở trẻ em
Viêm cầu thận cấp tiên phát là bệnh viêm cầu thận lan toả sau nhiễm khuẩn, phần lớn sau nhiễm liên cầu tán huyết kiểu b nhóm A. Bệnh diễn biến lành tính.
Sự phát triển tâm thần và vận động của trẻ em
Trẻ sơ sinh chỉ có những cử động tự phát, không ý thức. Do vây các động tác này thường xuất hiện đột ngột, không có sự phối hợp và đôi khi xảy ra hàng loạt các động tác vu vơ.
Rối loạn phân ly ở trẻ em
Rối loạn phân ly ở trẻ em! Đặc điểm cơ bản của rối loạn này là bệnh nhân có biểu hiện tăng cảm xúc, tăng tính ám thị và tự ám thị và có thể điều trị nhanh khỏi.
Suy hô hấp cấp ở trẻ em
Suy hô hấp là tình trạng hệ hô hấp không đủ khả năng duy trì sự trao đổi khí theo nhu cầu cơ thể, gây giảm O2 và/hoặc tăng CO2 máu. Hậu quả của suy hô hấp là thiếu oxy cho nhu cầu biến dưỡng của các cơ quan đặc biệt là não, tim và ứ đọng CO2 gây toan hô hấp.
Bệnh sởi ở trẻ em
Sởi là bệnh được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ X do y sĩ Persan Rhazes. Đến thế kỷ thứ XVIII, Home mới có những công trình thực nghiệm về sự truyền bệnh.
Bệnh học HIV AIDS ở trẻ em
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh do HIV là các biểu hiện của nhiễm trùng cơ hội và các bệnh u. Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi ở nhiều cơ quan, dễ nhầm với nhiều bệnh.
Bệnh học lao trẻ em
Trong bối cảnh lao đường tiêu hoá, lao ruột, lao phúc mạc, gồm sốt, biếng ăn, đau bụng lâm râm tái đi, tái lại, bụng chướng, bụng báng, dịch khu trú hoặc tự do ổ bụng.
Viêm màng não do lao ở trẻ em
Từ ngày thứ 5 xuất viện, các dấu hiệu và triệu chứng của màng não như đau đầu, buồn nôn, nôn vọt, ỉa lỏng (hoặc táo bón) thậm chí co giật. Khám có thể thấy các dấu hiệu màng não như gáy cứng, Kerning và thóp phồng.
Xuất huyết màng não muộn do thiếu Vitamin K ở trẻ em
Xuất huyết não màng não muộn xảy ra ở trẻ từ 15 ngày tuổi đến 6 tháng tuổi và nhiều nhất là ở trong khoảng từ 1 đến 2 tháng tuổi. Thường các triệu chứng xuất hiện đột ngột và nhanh nên.
Chăm sóc trẻ bị bệnh thận nhiễm mỡ
Đái nhiều protein sẽ dẫn đến giảm protit máu, và như v ây áp lực keo trong máu sẽ giảm, dẫn đến hiên tượng nước trong lòng mạch thoát ra gian bào gây nên phù và đái ít.
Viêm khớp mủ ở trẻ em
Viêm mủ khớp là hậu quả của viêm xương tuỷ xương mà vùng hành xương nằm trong bao khớp hoặc có thể ổ viêm xương phá vỡ tổ chức khớp đưa mủ vào trong khớp.
Thiếu máu tan máu tự miễn ở trẻ em
Bệnh thường xảy ra phối hợp với một số bệnh nhiễm khuẩn như viêm gan, viêm phổi do vius, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, hoặc trên cơ sở bị một số bệnh như U lympho Hodgkin, Lupus ban đỏ, hội chứng suy giảm miễn dịch.
