Điều trị ung thư: thuốc mới tấn công gen gây ung thư

2019-09-17 10:31 AM
Một nghiên cứu tập trung vào ung thư vú và phổi, và nghiên cứu kia tập trung vào các bệnh ung thư, liên quan đến béo phì

Hai bài báo gần đây viết về hai vấn đề liên quan đến ung thư bằng cách sử dụng cùng một loại thuốc. Họ hy vọng rằng nó có thể cải thiện khả năng sống sót trong ung thư vú và ung thư phổi và ngăn chặn các bệnh ung thư liên quan đến béo phì.

Các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Michigan ở East Lansing đang sử dụng các tuyến phân tử mới để tấn công ung thư.

Các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến các chất ức chế bromodomain (chất ức chế BET).

Đây là một nhóm thuốc mới đầy hứa hẹn nhắm vào các gen liên quan đến sự phát triển của bệnh ung thư.

Các chất ức chế BET ngăn chặn sự biểu hiện của một số gen thúc đẩy tăng trưởng và do đó làm chậm sự phát triển khối u.

Các nhà nghiên cứu đã công bố hai bài báo trên tạp chí Phòng chống ung thư. Một nghiên cứu tập trung vào ung thư vú và phổi, và nghiên cứu kia tập trung vào các bệnh ung thư liên quan đến béo phì. Cả hai tiếp cận các con đường phân tử giống nhau.

Ngừng gen ung thư

Đầu tiên là một nghiên cứu tiền lâm sàng do Karen Liby, một giáo sư tại Khoa Dược và Độc chất học đứng đầu.

Nghiên cứu này cho thấy chất ức chế BET có tên I-BET-762 làm chậm sự tiến triển của ung thư phổi và ung thư vú bằng cách tương tác với một gen gây ung thư có tên là c-Myc.

Về sức khỏe, gen này giúp điều hòa phiên mã DNA, nhưng một phiên bản đột biến được tìm thấy trong nhiều loại tế bào ung thư, nơi nó giúp chúng sinh sôi nảy nở nhanh chóng.

Giáo sư Liby giải thích: "I-BET-762 hoạt động bằng cách nhắm mục tiêu DNA để gen này không thể biểu hiện. Nó thực hiện điều này bằng cách ức chế một số protein quan trọng - cả trong ung thư và tế bào miễn dịch - cuối cùng làm giảm lượng tế bào ung thư ở chuột 80 phần trăm".

Các protein mà nó ức chế rất quan trọng cho ung thư phát triển. Khi một trong số chúng - được gọi là pSTAT3 - hoạt động trong các tế bào miễn dịch, nó sẽ ngăn chúng thực hiện vai trò bảo vệ của chúng.

Điều này cho phép ung thư tiến triển không lường trước được. Trong các tế bào ung thư, pSTAT3 thường được sản xuất quá mức, che chắn hiệu quả các tế bào ung thư và cho phép khối u tiếp tục phát triển.

Trong nghiên cứu ban đầu của Giáo sư Liby, họ đã giảm mức 50% pSTAT3 ở cả tế bào miễn dịch và ung thư.

Béo phì và ung thư

Đối với nghiên cứu thứ hai, Jamie Bernard - một giáo sư dược lý và độc học - đã thử một cách tiếp cận tương tự nhưng sử dụng các tế bào tiền ung thư. Đây là những tế bào bất thường có thể phát triển thành tế bào ung thư. Trọng tâm, lần này, là về bệnh ung thư liên quan đến béo phì.

Béo phì là một yếu tố nguy cơ của một loạt bệnh ung thư, bao gồm ung thư vú, đại trực tràng, thận và tụy. Lý do chính xác cho mối quan hệ này vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng những thay đổi về mức độ hormone, hoạt động miễn dịch và các yếu tố tăng trưởng được cho là một phần.

Các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm hiểu các quá trình phân tử đang làm việc với mục đích cắt giảm chúng.

"Gần nửa triệu ca ung thư mới có liên quan đến béo phì. Có bằng chứng cho thấy chất béo nội tạng và chế độ ăn nhiều chất béo có thể làm tăng nguy cơ ung thư; và trong khi các phương pháp điều trị ung thư hiện nay đã giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư, số lượng ung thư liên quan đến béo phì tiếp tục leo lên".

Giáo sư Bernard giải thích tiền đề của nghiên cứu của mình, nói rằng: "Chúng tôi đã xem xét trực tiếp hiệu ứng mà I-BET-762 mang lại cho các tế bào người có thể trở thành khối u nhưng vẫn chưa hoàn toàn". Và kết quả thật đáng khích lệ.

"Chúng tôi đã tìm thấy", ông kết luận, "loại thuốc này đã ngăn chặn hơn 50% các tế bào này trở thành ung thư".

Một lần nữa, c-Myc dường như là chìa khóa thành công của I-BET-762. Gen c-Myc được tạo ra bởi mỡ nội tạng bao quanh các cơ quan của cơ thể, khác với mỡ dưới da nằm dưới da. Các nhà khoa học biết rằng chất béo nội tạng có hại cho sức khỏe hơn chất béo dưới da.

Điều trị ung thư đã có những bước nhảy vọt trong những năm gần đây, nhưng tỷ lệ tử vong trong ung thư phổi và ung thư vú vẫn còn cao. Nghiên cứu những vấn đề này có thể được ngăn chặn như thế nào là điều cần thiết.

Hiện tại, các loại thuốc khác có tác dụng tương tự I-BET-762 đang được thử nghiệm để điều trị một loạt các loại ung thư.

Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng, bằng cách hiểu các mục tiêu cụ thể, các phương pháp phòng ngừa tốt hơn có thể được áp dụng cho những người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao.

Bài mới nhất

Phản xạ tự chủ của tủy sống: hệ thần kinh tự chủ được tích hợp trong tủy sống

Phản xạ tủy sống gây co cứng cơ

Động tác bước và đi bộ: phản xạ tư thế

Phản xạ tư thế: dáng đi ở tủy sống

Ức chế đối kháng: cung phản xạ đồi kháng

Phản xạ duỗi chéo: phối hợp vận động của các chi

Phản xạ gấp và phản xạ rút lui khỏi vật kích thích

Điều hòa vận động: vai trò của phản xạ gân

Điều hòa vận động: ứng dụng lâm sàng của phản xạ căng cơ

Điều hòa vận động: vai trò thoi cơ trong các vận động chủ động

Điều hòa vận động: vai trò của phản xạ căng cơ

Điều hòa vận động: vai trò của suốt cơ

Tủy sống: tổ chức hoạt động chức năng vận động

Phân loại điếc: các bất thường về thính giác

Xác định hướng đến của âm thanh: cơ chế thính giác trung ương

Chức năng thính giác của vỏ não: cơ chế thính giác trung ương

Đường truyền thần kinh thính giác: cơ chế thính giác trung ương

Cường độ âm thanh: xác định bởi hệ thính giác

Tần số âm thanh: định nghĩa nguyên lý vị trí thính giác

Điện thế tai trong: phản ánh nồng độ cao kali và nồng độ thấp natri

Cơ quan Corti: tầm quan trọng trong việc thu nhận âm thanh

Sóng chạy: sự dẫn truyền của sóng âm trong ốc tai

Giải phẫu và chức năng của ốc tai

Dẫn truyền âm thanh từ màng nhĩ đến ốc tai: phối hợp trở kháng bởi xương con

Điều soát kích thước đồng tử của mắt