- Trang chủ
- Sách y học
- Thực hành chẩn đoán và điều trị
- Viên uống tránh thai đơn thuần
Viên uống tránh thai đơn thuần
Những phụ nữ cảm thấy khó chịu do các tác dụng phụ của estrogen trong viên kết hợp, chẳng hạn như phù nề do ứ nước, tăng cân theo chu kỳ, đau đầu, nám da.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Là loại viên uống tránh thai chỉ chứa duy nhất một loại hormon là progestogen. Tác dụng tránh thai tương tự như loại viên kết hợp, nhưng thích hợp hơn với một số đối tượng không dùng được loại viên kết hợp, chẳng hạn như:
Phụ nữ đã lớn tuổi, nhất là phụ nữ trên 35 tuổi nghiện thuốc lá. (Chống chỉ định với viên kết hợp.) Đối với phụ nữ trên 40 tuổi, viên đơn thuần chứa progestogen cũng có tác dụng tương đương như viên kết hợp, nhưng có thể làm giảm bớt căng thẳng tiền kinh nguyệt và các triệu chứng mãn kinh.
Phụ nữ đang cho con bú.
Những phụ nữ chống chỉ định với viên kết hợp do bị cao huyết áp, tiểu đường, đau đầu migraine, bệnh huyết khối tĩnh mạch hoặc nghẽn mạch.
Những phụ nữ cảm thấy khó chịu do các tác dụng phụ của estrogen trong viên kết hợp, chẳng hạn như phù nề do ứ nước, tăng cân theo chu kỳ, đau đầu, nám da.
Những phụ nữ đang chuẩn bị để được phẫu thuật lớn.
Chống chỉ định
Không dùng viên tránh thai đơn thuần cho các đối tượng sau đây:
Có tiền sử hoặc đang mắc phải các bệnh động mạch nghiêm trọng, hoặc có nguy cơ cao đối với các bệnh này.
Tiền sử có thai ngoài tử cung.
Bị chửa trứng trong thời gian gần đây.
Cách dùng
Nếu bắt đầu dùng thuốc từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt, không cần thêm bất cứ biện pháp tránh thai nào khác.
Nếu bắt đầu dùng thuốc vào giữa chu kỳ kinh nguyệt, nên áp dụng thêm một biện pháp tránh thai khác trong vòng 7 ngày đầu tiên.
Nếu đang dùng viên tránh thai kết hợp chuyển sang dùng viên đơn thuần, có thể dùng thuốc liên tục không cần thời gian gián đoạn, và không cần thêm bất cứ biện pháp tránh thai nào khác vào lúc mới đổi thuốc.
Dùng thuốc đều đặn mỗi ngày một viên vào cùng một thời điểm, có thể xê dịch trong khoảng 2 – 3 giờ. Thuốc có hiệu quả cao nhất 5 giờ sau khi uống, vì thế nên chọn giờ uống thuốc phù hợp với thói quen giao hợp.
Nếu lỡ quên 1 viên thuốc, uống ngay vào lúc vừa nhớ ra, và uống viên kế tiếp vào thời điểm như bình thường. Nếu thời gian quên thuốc đã trễ quá 3 giờ, có thể ảnh hưởng đến khả năng tránh thai, cần áp dụng thêm một biện pháp tránh thai khác trong vòng 7 ngày sau đó. Nếu có giao hợp sau khi quên dùng thuốc quá 3 giờ, cần áp dụng các biện pháp tránh thai sau giao hợp.
Nếu bị nôn, tiêu chảy trầm trọng trong thời gian dùng thuốc, vẫn tiếp tục dùng thuốc. Cần phải áp dụng thêm một biện pháp tránh thai khác trong thời gian bệnh và sau đó 7 ngày.
Việc dùng thuốc kháng sinh không gây ảnh hưởng gì đến viên tránh thai đơn thuần.
Ưu – nhược điểm
Viên uống tránh thai đơn thuần có những ưu điểm giống như viên kết hợp, đó là dễ sử dụng và có hiệu quả tránh thai cao nếu được sử dụng đúng cách. Tỷ lệ thất bại trên lý thuyết là khoảng 0,3 – 4%, mặc dù trong thực tế có thể hơi cao hơn. Do đó, viên uống tránh thai đơn thuần là khả năng thay thế thích hợp để chọn dùng trong các trường hợp không thể dùng viên tránh thai kết hợp.
Hoàn toàn không có chứng cứ nào về việc thuốc này làm gia tăng nguy cơ bị huyết khối.
Một số tác dụng phụ có thể có khi dùng thuốc
Chảy máu âm đạo bất thường. Đa số phụ nữ dùng thuốc có một chu kỳ chảy máu vào khoảng từ ngày thứ 25 đến 35 sau khi dùng thuốc, nhưng lượng máu thường không nhiều. Một số trường hợp khác có thể xảy ra vô kinh.
Buồn nôn.
Nhạy cảm đau ở vú, thường chỉ có trong khoảng 2-3 tháng bắt đầu dùng thuốc.
Bài viết cùng chuyên mục
Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm gan A
Khi HAV theo thức ăn hoặc nước uống xâm nhập vào cơ thể, chúng tập trung ở các tế bào gan và sinh trưởng cực nhanh.
Thực hành chẩn đoán và điều trị mắt đau không đỏ
Do bị viễn thị (longsightedness). Do bị chứng đau nửa đầu (migraine). Do bị viêm xoang (sinusitis). Do bị đau đầu vì căng thẳng.
Thực hành chẩn đoán và điều trị lác mắt
Đối với trẻ em, cho trẻ nhìn vào một đèn pin nhỏ ở cách khoảng nửa mét và quan sát sự phản chiếu ánh sáng trong giác mạc. Nếu trẻ bị lác mắt, ánh sáng sẽ phản chiếu không cân đối.
Thực hành chẩn đoán và điều trị ho ra máu
Chẩn đoán phân biệt các nguồn chảy máu khác nhau, chẳng hạn như họng có thể chảy máu nếu khám thấy amiđan bị viêm. Kiểm tra lồng ngực để phát hiện viêm phổi hay viêm phế quản.
Thực hành chẩn đoán và điều trị xuất tinh sớm
Trong kỹ thuật này, người đàn ông ngừng mọi sự kích thích ngay khi có cảm giác gần xuất tinh, và thư giãn trong khoảng 30 giây.
Thực hành chẩn đoán và điều trị thiếu máu
Thiếu máu ác tính: Trong bệnh thiếu máu ác tính thì thiếu vitamin B12 là do cơ thể giảm sản xuất yếu tố nội tại cần thiết cho việc hấp thụ loại vitamin này.
Thực hành chẩn đoán và điều trị glucose niệu khi mang thai
Nếu kết quả đo lúc đói > 5,8 mmol/L, hoặc kết quả đo sau đó 2 giờ > 7,8 mmol/L cho thấy hiện tượng tiểu đường thai nghén. Cần đề nghị chuyển bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa.
Khái niệm chung về biện pháp tránh thai tự nhiên
Ưu điểm chung của các biện pháp này là do không dùng thuốc cũng như không đưa bất kỳ dị vật nào vào cơ thể nên không có vấn đề chống chỉ định hoặc các phản ứng phụ liên quan đến sức khỏe và đời sống.
Chảy nước mắt bất thường
Trường hợp thứ hai do tắc nghẽn kênh dẫn lưu nước mắt. Những nguyên nhân có thể là: nhiễm trùngđường hô hấp trên, mí mắt quặm.
Thực hành chẩn đoán và điều trị rụng tóc
Do yếu tố di truyền, thường là hiện tượng rụng tóc cả vùng gây hói, khởi đầu từ hai bên thái dương, vùng trán rồi lan rộng dần. Thường gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới.
Thực hành nuôi con bằng sữa bình
Khi trẻ đã làm quen với một loại sữa được chọn, nên hạn chế thay đổi nếu không có lý do thực sự cần thiết.
Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh sởi
Trẻ em dưới 8 tháng tuổi rất hiếm khi mắc bệnh sởi, nhờ có kháng thể nhận được từ sữa mẹ. Vì thế, nuôi con bằng sữa mẹ cũng là một cách bảo vệ trẻ chống lại bệnh này.
Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm mũi dị ứng
Tác nhân gây dị ứng không giống nhau ở mỗi người, nên việc người bệnh xác định được tác nhân gây dị ứng là rất quan trọng.
Thực hành chẩn đoán và điều trị tiểu không tự chủ
Tiểu không tự chủ do thôi thúc thường xảy ra khi đang đi hoặc ngồi, nhưng thường nhất là bắt đầu khi thay đổi tư thế đột ngột.
Thực hành chẩn đoán và điều trị loét đường tiêu hóa
Loét do vi khuẩn H. pylori: là tất cả những trường hợp loét đường tiêu hóa mà xét nghiệm cho thấy có sự hiện diện của loại vi khuẩn này.
Thực hành chẩn đoán và điều trị chấy
Thuốc gội đầu có chứa malathion hay carbaryl đều có hiệu quả tốt. Bôi thuốc lên đầu, để yên khoảng 12 giờ rồi gội sạch. Có thể dùng lược răng dày để chải sạch xác chấy và trứng sau khi gội.
Thực hành chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu
Giao hợp nam nữ đôi khi cũng là nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu cho phụ nữ. Do sự cọ xát khi giao hợp, vi khuẩn bị đẩy lên bàng quang dễ hơn, vì lỗ tiểu nằm rất gần cửa âm đạo.
Thực hành chẩn đoán và điều trị hôi miệng
Điều trị các nguyên nhân tùy theo kết quả chẩn đoán. Nếu không có các triệu chứng nhiễm trùng, việc dùng kháng sinh có thể là không cần thiết.
Thực hành chẩn đoán và điều trị thủy đậu
Virus gây bệnh lây truyền qua môi trường không khí, do người bệnh đưa vào khi ho, hắt hơi... Tiếp xúc trực tiếp như cầm nắm các vật dụng có virus bám vào cũng có thể bị lây bệnh.
Thực hành chẩn đoán và điều trị đau thắt ngực
Xác định tính chất cơn đau. Đặc trưng của cơn đau thắt ngực là: đau từ giữa ngực, cảm giác như bị đè nặng, lan rộng lên hàm, ra sau lưng và ra cánh tay (thường là tay trái).
Thực hành chẩn đoán và điều trị xuất huyết dưới kết mạc
Xuất huyết dưới kết mạc là trường hợp rất thường gặp, không có nguyên nhân rõ rệt. Bệnh làm cho mắt đỏ nhưng hoàn toàn không đau, không có dử mắt (ghèn), không gây tổn thương mắt.
Thực hành chẩn đoán và điều trị cúm
Virus gây bệnh cúm rất đa dạng. Nhìn chung, hiện các loại virus gây bệnh cúm được phân thành 3 dòng chính gọi là virus cúm A, virus cúm B và virus cúm C.
Thực hành chẩn đoán và điều trị ban đỏ nhiễm khuẩn
Hai gò má nổi lên những vùng đỏ, tương phản với một vùng tái nhợt xung quanh miệng. Vì thế, bệnh này còn được gọi là bệnh đỏ má (slapped cheek disease).
Thực hành chẩn đoán và điều trị tiêu chảy
Độc tố trong thức ăn thường là do các loại vi khuẩn sinh ra, chẳng hạn như độc tố của các vi khuẩn Staphylococcus aureus, Clostridium, Salmonella, Campylobacter jejuni.
Thực hành chẩn đoán và điều trị mỏng giác mạc
Nhỏ phẩm nhuộm fluorescein vào mắt để phát hiện các vết trầy xước trên giác mạc, vì màu fluorescein sẽ dính lại ở đó và phản chiếu khi ta dùng tia sáng màu xanh rọi vào mắt.
