Tắc cấp động mạch thận: nguyên lý nội khoa

2018-04-20 02:40 PM

Nhồi máu thận rộng gây đau, buồn nôn, nôn, tăng huyết áp, sốt, protein niệu, đái máu, tăng lactat dehydrogenase và aspartate aminotransferase.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tổn thương thiếu máu cục bộ thận tùy thuộc vào tốc độ, vị trí, mức độ nghiêm trọng và thời gian tổn thương mạch máu. Biểu hiện dao động từ đau do nhồi máu đến chấn thương thận cấp, giảm mức lọc cầu thận, đái máu hoặc rối loạn chức năng ống thận. Thiếu máu cục bộ thận do bất kỳ nguyên nhân nào có thể gây nên tăng huyết áp qua trung gian renin.

Có thể do huyết khối hoặc thuyên tắc (từ bệnh van tim, viêm nội tâm mạc, huyết khối thành tim, hoặc loạn nhịp nhĩ) hoặc tắc trong khi phẫu thuật, ví như trong khi sửa chữa nội mạch của phình động mạch chủ bụng.

Thuyên tắc động mạch thận

Nhồi máu thận rộng gây đau, buồn nôn, nôn, tăng huyết áp, sốt, protein niệu, đái máu, tăng lactat dehydrogenase và aspartate aminotransferase.

Trong tổn thương thận một bên, mất chức năng thận tùy thuộc vào thận còn lại. Chụp x-quang bể thận bằng đường tĩnh mạch hoặc xạ hình cho thấy giảm chức năng một bên; siêu âm là bình thường cho đến khi sẹo phát triển.

Chụp động mạch thận xác định chẩn đoán. Với tắc động mạch lớn, có thể phải phẫu thuật; thuốc chống đông nên được dùng cho tắc động mạch nhỏ.

Bệnh nhân nên được đánh giá một tạng huyết khối, ví dụ hội chứng kháng phospholipid. Tắc một hoặc tất cả động mạch thận cũng có thể hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, thường kèm với một hẹp đáng kể động mạch thận.

Vữa xơ tắc mạch thận

Thường xảy ra khi chụp động mạch chủ hoặc động mạch vành hoặc phẫu thuật gây thuyên tắc cholesterol của mạch nhỏ ở thận ở bệnh nhân có xơ vữa động mạch lan tỏa. Cũng có thể tự nhiên hoặc liên quan đến huyết khối, hoặc có thể (hiếm) xảy ra sau khi bắt đầu dùng thuốc chống đông (warfarin). Suy thận có thể tiến triển đột ngột, một vài ngày hoặc vài tuần sau một can thiệp, hoặc từ từ; tốc độ có thể liên tục hoặc ngắt quãng, với giảm đứt quảng mức lọc cầu thận. Những phát hiện liên quan có thể gồm thiếu máu cục bộ võng mạc với thuyên tắc cholesterol thấy được khi soi đáy mắt, viêm tụy, triệu chứng thần kinh (đặc biệt là lú lẫn), viêm mạch mạng xanh tím, hiện tượng tắc mạch ngoại vi (ngón chân hoại tử với mạch đập mạnh có thể sờ thấy được), đau bụng do thuyên tắc mạch mạc treo, và tăng huyết áp (đôi khi ác tính). Triệu chứng toàn thân có thể cũng xuất hiện, gồm sốt, đau cơ, đau đầu và sụt cân. Bạch cầu máu ngoại vi, bạch cầu niệu và giảm bổ thể máu có thể thấy được, giống với các hình thức khác của tổn thương thận bán cấp. Thật vậy, bệnh xơ vữa tắc mạch thận là “kẻ bắt chước vĩ đại” của thận học lâm sàng, xuất hiện trong những trường hợp hiếm hoi cùng tăng huyết áp ác tính, với hội chứng thận hư, hoặc với viêm cầu thận tiến triển nhanh có cặn nước tiểu hoạt động; chẩn đoán dựa vào bệnh sử, thăm khám lâm sàng và/hoặc sinh thiết thận.

Sinh thiết thận thường có hiệu quả trong việc phát hiện thuyên tắc cholesterol ở vi mạch thận, cái mà được xem như một khe có hình kim sau khi cố định vào dung môi các mẫu sinh thiết; thuyên tắc thường kết hợp với một đáp ứng viêm nội mạch phong phú.

Không có liệu pháp đặc hiệu nào, và bệnh nhân có một tiên lượng tổng thể nghèo nàn do liên quan đến gánh nặng của bệnh xơ vữa mạch máu. Tuy nhiên, thường có sự cải thiện một phần chức năng thận vài tháng sau khởi phát của suy thận.

Bài viết cùng chuyên mục

Truyền máu: nguyên lý nội khoa

Mục tiêu chính của thay máu là loại bỏ những hồng cầu lạ và thay bằng những hồng cầu bình thường để làm gián đoạn của chu trình tạo hồng cầu hình liềm, ứ trệ, tắc mạch.

Khám cảm giác: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh nhân với sang thương não bộ có những bất thường về phân biệt cảm giác như là khả năng cảm nhận được hai kích thích đồng thời, định vị chính xác kích thích.

Bất thường về cận lâm sàng thiếu máu

Hồng cầu lưới tăng, soi tiêu bản thấy hồng cầu có nhân và nhiễm sắc, có thể thấy hồng cầu hình cầu, hình elip, mảnh vỡ hồng cầu hoặc hình bia, có gai hoặc hình liềm tùy theo từng rối loạn khác nhau.

Vàng da: nguyên lý nội khoa

Bilirubin là sản phẩm thoái giáng chủ yếu của hemoglobin được giải phóng từ hồng cầu già. Đầu tiên, nó gắn vào albumin, được vận chuyển vào gan, được liên hợp với một dạng chất tan trong nước.

Các rối loạn tương bào

M component có thể thấy ở các bệnh nhân u lympho khác, ung thư không phải lympho và các tình trạng không phải lympho như xơ gan, sarcoidosis.

Bệnh sỏi thận: nguyên lý nội khoa

Sỏi bể thận có thể không có triệu chứng hoặc gây đái máu đơn thuần, tắc nghẽn có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nào dọc theo đường tiết niệu.

Sỏi ống mật chủ: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Sỏi ống mật chủ có thể phát hiện tình cờ, đau quặn mật, vàng da tắc mật, viêm đường mật hoặc viêm tụy.

Bệnh mạch thận: nguyên lý nội khoa

Thiếu máu cục bộ thận do bất kỳ nguyên nhân nào có thể gây nên tăng huyết áp qua trung gian renin. Ngoài tắc cấp động mạch thận do thuyên tắc và vữa xơ mạch thận.

Buồn nôn và nôn ói: nguyên lý nội khoa

Chất trong dạ dày được đẩy vào thực quản khi khi đáy vị và cơ vòng dạ dày thực quản giãn sau một sự gia tăng áp lực nhanh chóng trong ổ bụng sinh ra từ sự co các cơ ở bụng và cơ hoành.

Bạch cầu kinh dòng tủy: nguyên lý nội khoa

Các triệu chứng phát triển từ từ, chóng mệt, mệt mỏi, chán ăn, bụng khó chịu và cảm giác no sớm do lách to, tăng tiết mồ hôi. Thỉnh thoảng các bệnh nhân được phát hiện tình cờ dựa trên số lượng bạch cầu tăng.

Ung thư tiền liệt tuyến: nguyên lý nội khoa

Với bệnh nhân đã đi căn xa, điều trị ức chế sản xuất androgen là 1 lựa chọn. Phẫu thuật cắt tinh hoàn có hiệu quả, nhưng hầu hết bệnh nhân thích dùng thuốc leuprolide.

Biến chứng hội chứng ly giải u khi điều trị ung thư

Khi khối u phát triển nhanh được điều trị với phác đồ hóa trị hiệu quả, các tế nào u sắp chết có thể giải phóng lượng lớn các sản phẩm phân hủy của acid nucleic.

Khám các dây thần kinh sọ: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Khám sơ bộ kiểm tra đáy mắt, thị trường, kích thước đồng tử và độ phản ứng, cử động ngoài mắt, và cử động trên mặt

Xét nghiệm chức năng gan: nguyên lý nội khoa

Đo mức độ hoạt động của các yếu tố đông máu, đông máu kéo dài do thiếu hoặc các yếu tố đông máu kém hoạt động; tất cả các yếu tố đông máu trừ yếu tố VIII được tổng hợp trong gan.

Đau bụng: nguyên lý nội khoa

Bệnh sử là công cụ chẩn đoán then chốt, Khám lâm sàng có thể không phát hiện hoặc có nhầm lẫn, xét nghiệm cận lâm sàng và chụp X quang có thể bị trì hoãn hoặc không có ích.

Ho: nguyên lý nội khoa

Các vấn đề quan trọng trong bệnh sử gồm yếu tố thúc đẩy ho, yếu tố gây tăng và giảm ho, và sự xuất đàm. Đánh giá các triệu chứng của bệnh ở mũi hầu, gồm chảy mũi sau, hắt hơi.

Loãng xương: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Yếu tố nguy cơ gãy xương do loãng xương được liệt kê trong bảng, và các bệnh liên quan với chứng loãng xương được liệt kê trong bảng.

Viêm xoang cấp tính: nguyên lý nội khoa

Rất khó để phân biệt viêm xoang do virus hay vi khuẩn trên lâm sàng, mặc dù nguyên nhân do virus thường gặp nhiều hơn so với vi khuẩn.

Amiodarone: thuốc gây bất thường chức năng tuyến giáp

Amiodarone là thuốc chống loạn nhịp tim type III có một số cấu trúc tương tự với hormon tuyến giáp và có hàm lượng iốt cao.

Bệnh lý tĩnh mạch và bạch huyết

DVT có thể phòng bằng cách đi lại sớm sau phẫu thuật hoặc heparin khối lượng phân tử liều thấp trong quá trình nằm giường bệnh kéo dài.

Phù phổi cấp: nguyên lý nội khoa

Bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý nặng, thường vã mồ hôi, đột ngột ngồi bật dậy, thở nhanh, xanh tái có thể biểu hiện. Ran phổi hai phế trường, tiếng tim thứ ba có thể xuất hiện.

Cường Aldosteron: cường năng tuyến thượng thận

Chẩn đoán được gợi ý khi tăng huyết áp kháng trị kết hợp với hạ kali máu kéo dài ở bệnh nhân không bị phù và không dùng lợi tiểu gây giảm kali.

Hội chứng nhiễm trùng tại chỗ với tiến trình khởi phát nhanh chóng

Các dấu hiệu đặc trưng có thể bao gồm phá hủy van nhanh chóng, phù phổi, hạ huyết áp, áp xe cơ tim, bất thường dẫn truyền và rối loạn nhịp, các sùi dễ vỡ lớn.

Chọc dịch màng bụng: nguyên lý nội khoa

Đối với một chọc lớn khối lượng, hệ thống hút trực tiếp vào thùng chứa chân không lớn sử dụng kết nối ống là một lựa chọn thường được sử dụng.

Thiếu hụt Aldosteron: suy tuyến thượng thận

Thiếu hụt aldosterone đơn thuần kèm theo sản xuất cortisol bình thường với giảm renin, như trong thiếu hụt aldosterone synthase di truyền.