Sụt cân: nguyên lý nội khoa

2018-02-06 09:01 PM

Hỏi bệnh sử có các triệu chứng đường tiêu hoá, gồm khó ăn, loạn vị giác, khó nuốt, chán ăn, buồn nôn, và thay đổi thói quen đi cầu. Hỏi lại tiền sử đi du lịch, hút thuốc lá, uống rượu.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Sụt cân không chủ đích một cách đáng kể ở một cơ thể khoẻ mạnh trước đó thường là điềm báo hiệu của một bệnh hệ thống tiềm ẩn. Hỏi bệnh sử thường quy nên luôn luôn bao gồm những câu hỏi về thay đổi cân nặng. Cân nặng thay đổi thất thường qua nhiều ngày gợi ý tình trạng mất hoặc thừa dịch, trong khi đó những thay đổi lâu dài thường liên quan đến mất khối lượng mô. Giảm 5% khối lượng cơ thể trong 6-12 tháng cần thiết phải đánh giá sâu hơn. Sụt cân từ từ là tình trạng sinh lý ở người trên 80 tuổi, nhưng nhóm dân số này cũng có nguy cơ cao các bệnh lý ác tính hoặc bệnh nghiêm trọng khác.

Nguyên nhân

Các nguyên nhân chính gây giảm cân không chủ đích được chia thành 4 nhóm: (1) u ác tính, (2) viêm mạn tính hoặc các bệnh nhiễm trùng, (3) rối loạn chuyển hoá, hoặc (4) rối loạn tâm thần (Bảng). Ở người già, nguyên nhân gây sụt cân thường gặp nhất là suy nhược, ung thư, bệnh đường ruột lành tính. Ung thư phổi và đường tiêu hoá là những bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở BN có biểu hiện sụt cân. Ở người trẻ, nên xem xét đái tháo đường, cường giáp, chứng chán ăn tâm thần, và nhiễm trùng, đặc biệt là HIV.

Bảng. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY SỤT CÂN

Các nguyên nhân gây sụt cân 

Đặc điểm lâm sàng

Trước khi thực hiện những đánh giá mở rộng, điều quan trọng là xác nhận có sụt cân (lên đến 50% bệnh nhân khẳng định sụt cân không giải thích được). Nếu không có bằng chứng, sự thay đổi kích thước dây nịt hoặc độ vừa vặn của quần áo có thể giúp xác định sự sụt cân.

Bệnh sử nên bao gồm các câu hỏi về sốt, đau, khó thở hoặc ho, đánh trống ngực, và các bằng chứng của bệnh thần kinh. Hỏi bệnh sử có các triệu chứng đường tiêu hoá, gồm khó ăn, loạn vị giác, khó nuốt, chán ăn, buồn nôn, và thay đổi thói quen đi cầu. Hỏi lại tiền sử đi du lịch, hút thuốc lá, uống rượu, và sử dụng thuốc, và hỏi về các bệnh lý hoặc phẫu thuật trước đó cũng như các bệnh lý của các thành viên trong gia đó. Đánh giá các yếu tố nguy cơ nhiễm HIV. Xem xét các dấu hiệu của trầm cảm, bằng chứng của sa sút trí tuệ, và các yếu tố xã hội, bao gồm sống một mình, cô độc, và các vấn đề tài chính có thể ảnh hưởng đến việc ăn uống.

Khám lâm sàng nên bắt đầu bằng xác định cân nặng và ghi chép lại các sinh hiệu. Khám da để kiểm tra vẻ xanh xao, vàng da, sức căng da, sẹo phẫu thuật, và những dấu hiệu của bệnh hệ thống. Đánh giá bệnh tưa miệng, bệnh ở răng, tuyến giáp to, và bệnh hạch bạch huyết và các bất thường ở hệ hô hấp, tim mạch, vùng bụng. Tất cả đàn ông nên được khám trực tràng, kể cả tuyến tiền liệt; tất cả phụ nữ nên được khám khung chậu; và cả hai giới nên được soi phân tìm máu ẩn trong phân. Khám thần kinh nên bao gồm đánh giá trạng thái tâm thần và tầm soát trầm cảm.

Đánh giá cận lâm sàng ban đầu được liệt kê trong Bảng, điều trị thích hợp dựa vào nguyên nhân nền gây sụt cân. Nếu không tìm thấy nguyên nhân, nên theo dõi lâm sàng cẩn thận, hơn là làm các xét nghiệm liên tục mà không có định hướng. Không có xét nghiệm nào bất thường là một dấu hiệu tiên lượng tốt.

Bảng. XÉT NGHIỆM TẦM SOÁT ĐỂ ĐÁNH GIÁ SỤT CÂN KHÔNG CHỦ ĐÍCH

 Xét nghiệm tầm soát sụt cân

Điều trị sụt cân

Điều trị sụt cân nên hướng đến việc điều chỉnh các nguyên nhân thực thể tiềm ẩn hoặc hoàn cảnh xã hội. Trong những tình huống đặc biệt, bổ sung dinh dưỡng và thuốc (megestrol acetate, dronabinol, hoặc hormone tăng trưởng) có thể hiệu quả trong việc kích thích thèm ăn hoặc tăng cân.

Bài viết cùng chuyên mục

Tăng nồng độ cholesterol đơn thuần

Hiếm gặp người có hàm lượng cholesterol HDL tăng rõ rệt cũng có thể làm tăng nồng độ cholesterol toàn phần huyết thanh.

Đánh trống ngực: nguyên lý nội khoa

Ở bệnh nhân có nhịp ngoại tâm thu nhĩ hoặc thất mà không có bệnh lý ở cấu trúc tim, chiến lược điều trị gồm giảm uống rượu và caffein, reassurance, và cân nhắc sử dụng chẹn beta.

Đái tháo đường: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Các thể đặc biệt khác bao gồm đái tháo đường do khiếm khuyết di truyềnvà rối loạn đơn gen hiếm gặp khác, bệnh về tuyến tụy ngoại tiết.

Dinh dưỡng đường ruột và ngoài ruột

Dinh dưỡng qua đường ruột dùng để cho ăn qua đường ruột, sử dụng các chất bổ sung đường miệng hoặc tiêm truyền của các công thức thông qua ống dẫn thức ăn khác nhau.

Buồn ngủ ngày quá mức

Phân biệt sự buồn ngủ do sự mệt mỏi chủ quan của người bệnh có thể khó khăn. Đo thời gian ngủ ngày có thể thực hiện ở phòng thí nghiệm kiểm tra các giấc ngủ ban ngày.

Khám vận động: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Đánh giá sức chi trên bằng sự trôi cơ sấp và lực của phản xạ cổ tay, ngón tay, Đánh giá sức chi dưới yêu cầu bệnh nhân đi lại bình thường, đi bằng gót chân, bằng ngón chân.

Ung thư chưa rõ nguyên phát: nguyên lý nội khoa

Khi khối U đã di căn, các xét nghiệm chẩn đoán nên làm để phát hiện các khối U có khả năng điều trị khỏi, như u limpho, bệnh Hodgkin, u tế bào mầm, ung thư buồng trứng.

Viêm tai giữa: nguyên lý nội khoa

Hầu hết các trường hợp nhẹ đến trung bình khỏi bệnh trong vòng 1 tuần mà không cần điều trị đặc hiệu, giảm các triệu chứng bằng các thuốc giảm đau.

Khối u gan: nguyên lý nội khoa

Phẫu thuật cắt bỏ hoặc ghép gan là quan điểm điều trị nhưng hiếm khi thành công. Điều trị khối u bằng sóng cao tần có thể gây hồi quy các khối u nhỏ.

Phối hợp vận động và tư thế dáng bộ

Đánh giá cử động thay đổi nhanh của ngón tay, ngón chân, nghiệm pháp ngón tay chạm mũi, Quan sát bệnh nhân khi họ đi trên đường thẳng.

Chọc dò màng phổi: nguyên lý nội khoa

Chọc từ phía sau là vị trí ưa thích để chọc dò. Chọn vị trí thuận lợi thì dễ dàng cho cả bệnh nhân và bác sĩ. Bệnh nhân nên ngồi ở góc giường, gập người ra trước, 2 tay ôm gối.

Hạ và tăng magie máu: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Giảm Mg huyết thường do những rối loạn ở thận hoặc phân phối Mg ở ruột và được phân loại như nguyên phát hoặc thứ phát.

Đỏ mắt hoặc đau mắt

Mất thị lực đột ngột hoặc nhìn đôi ở những trường hợp mắt không bị đau và không bị viêm thường là các rối loạn thị giác hoặc thần kinh nghiêm trọng và nên được theo dõi chặt chẽ.

Sự phát triển của kháng thuốc điều trị ung thư

Trong kháng thuốc mắc phải, các khối u đáp ứng ban đầu với hóa trị sau đó xuất hiện kháng thuốc trong quá trình điều trị, thường do xuất hiện các dòng kháng thuốc trong quần thể tế bào ung thư.

Tăng natri máu: nguyên lý nội khoa

Ở bệnh nhân có tăng Natri máu do thận mất H2O, rất quantrọng trong xác định số lượng nước mất đang diễn ra hằng ngày ngoài việc tính toán lượng H2O thâm hụt.

Ngưng thở khi ngủ: nguyên lý nội khoa

Ngưng thở khi ngủ trung ương đặc trưng bởi tình trạng ngưng thở khi ngủ do mất đi sự gắng sức thở. Ngưng thở khi ngủ trung ương hay gặp ở bệnh nhân suy tim đột quỵ.

Đau bụng: nguyên lý nội khoa

Bệnh sử là công cụ chẩn đoán then chốt, Khám lâm sàng có thể không phát hiện hoặc có nhầm lẫn, xét nghiệm cận lâm sàng và chụp X quang có thể bị trì hoãn hoặc không có ích.

Các bất thường về thành phần nước tiểu

Hemoglobin và myoglobin tự do được phát hiện bởi que thử; cặn nước tiểu âm tính và que thử hem dương tính mạnh là đặc trưng của tan máu hoặc tiêu cơ vân.

Hôn mê: nguyên lý nội khoa

Những vấn đề hô hấp và tim mạch cấp tính nên được chú trọng trước khi đánh giá thần kinh. Các dấu hiệu thần kinh nên được đánh giá và khởi đầu hỗ trợ thích hợp.

Bỏng lạnh: nguyên lý nội khoa

Các triệu chứng luôn gồm khiếm khuyết cảm giác sờ nông, đau, và cảm nhận nhiệt, Mô bị bỏng lạnh sâu có thể giống như sáp, xuất hiện các vết đốm, màu vàng hoặc tráng nhợt hơi tím.

U tuyến yên: nguyên lý chẩn đoán điều trị

U tuyến yên là khối u đơn dòng lành tính phát sinh từ một trong năm loại tế bào thùy trước tuyến yên và có thể gây ra các tác dụng trên lâm sàng.

Táo bón: nguyên lý nội khoa

Thay đổi nhu động đại tràng do rối loạn chức năng thần kinh, đái tháo đường, tổn thương tuỷ sống, đa xơ cứng, bệnh Chagas, bệnh Hirschsprung, giả tắc ruột mạn tính vô căn.

Bệnh viêm mạch: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Hội chứng viêm mạch duy nhất có thể rất khác biệt với các đặc điểm lâm sàng, mức độ nghiêm trọng của bệnh, mô học và điều trị.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô.

Bệnh nền tác động đến say độ cao

Bệnh nhân thiếu máu cục bộ tim, nhồi máu trước đó, phẫu thuật mạch, và/ hoặc phẫu thuật bắc cầu nên có bài kiểm tra chạy bộ. Test chạy bộ dương tính mạnh chống chỉ định với độ cao lớn.