Suy thận cấp: nguyên lý nội khoa

2018-04-10 11:22 AM

Trong số bệnh nhân nhập viện, đặc biệt ở khoa ngoại hoặc hồi sức tích cực, hoại tử ống thận cấp là chẩn đoán hay gặp nhất.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Định nghĩa

Suy thận cấp được định nghĩa là sự tăng creatinin (Cr) trong máu [luôn tăng tương đối 50% hoặc tăng hoàn toàn bằng 44–88 μmol/l (0.5–1.0 mg/dl)], xảy ra ở ~5–7% bệnh nhân nhập viện. Nó làm tăng đáng kể tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong trong bệnh viện. Suy thận cấp có thể được dự đoán trong một số trường hợp lâm sàng (ví dụ: sau chụp cản quang hoặc phẫu thuật lớn), và không có liệu pháp dược lý cụ thể nào hữu ích trong việc ngăn ngừa hay đảo ngược tình trạng này. Duy trì tối ưu tưới máu thận và thể tích nội mạch dường như là quan trọng trong hầu hết các trường hợp lâm sàng; các yếu tố quan trọng trong suy thận cấp gồm giảm thể tích tuần hoàn và những thuốc gây trở ngại cho tưới máu thận, và/hoặc sự lọc cầu thận [thuốc chống viêm non-sterioid (NSAIDs), thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể ATII].

Chẩn đoán nguyên nhân

Chia thành ba loại lớn (suy thận trước thận, tại thận và sau thận) có lợi ích lâm sàng đáng kể (Bảng). Suy thận trước thận thường gặp ở bệnh nhân nhập viện. Là kết quả của sự giảm thể tích thực [ví dụ: tiêu chảy, nôn, xuất huyết tiêu hóa hoặc nơi khác] hoặc giảm thể tích máu lưu thông hiệu quả hoặc đổ đầy dưới mức động mạch, v.v.., giảm tưới máu thận do lượng máu không đủ hoặc thừa. Giảm tưới máu thận có thể thấy ở suy tim sung huyết (do giảm cung lượng tim và/hoặc dùng thuốc giãn mạch mạnh), xơ gan (nhiều khả năng do giãn mạch ngoại vi và shunt động-tĩnh mạch), hội chứng thận hư và những tình trạng giảm protein máu nặng khác [protein máu toàn phần <54 g/l (<5.4 g/dl)], và bệnh mạch thận (vì hẹp cố định ở động mạch chính của thận hoặc các nhánh lớn). Nhiều thuốc có thể làm giảm tưới máu thận, đáng chú ý là NSAIDs. Thuốc chế men chuyển và ức chế thụ thể ATII có thể giảm lọc cầu thận nhưng khôngcó xu hướng làm giảm tưới máu thận.

Nguyên nhân của suy thận tại thận tùy thuộc vào lâm sàng. Trong số bệnh nhân nhập viện, đặc biệt ở khoa ngoại hoặc hồi sức tích cực, hoại tử ống thận cấp là chẩn đoán hay gặp nhất. Một biến cố thiếu máu cục bộ được xác định rõ hoặc nhiễm độc (ví dụ: nhóm Aminoglycosid) có thể dẫn tới hoại tử ống thận cấp trong bệnh viện. Ngoài ra, bệnh nhân có thể nhập viện với hoại tử ống thận cấp kèm tiêu cơ vân; yếu tố nguy cơ thường gặp là nghiện rượu, hạ kali máu, và nhiều loại thuốc (Statin). Viêm kẽ thận dị ứng luôn do thuốc kháng sinh (Penicillin, Cephalosporin, Sulfonamid, Quinolon, và Rifampin), hoặc NSAIDs. Thuốc cản quang có thể gây suy thận cấp ở bệnh nhân có bệnh thận từ trước; nguy cơ cao hơn ở bệnh nhân đái tháo đường có bệnh thận mạn tính. Chụp động mạch vành, các can thiệp mạch khác, làm tan huyết khối, hoặc thuốc chống đông có thể dẫn tới tắc mạch do xơ vữa, là nguyên nhân gây suy thận cấp do ảnh hưởng đến cả huyết động và nhiễm khuẩn; viêm mạch mạng xanh tím, hiện tượng tắc mạch với mạch ngoại vi được bảo vệ, và bạch cầu ái toan là những gợi ý chẩn đoán quan trọng. Viêm cầu thận cấp và huyết khối mao mạch cũng có thể gây nên suy thận cấp. Huyết khối mao mạch có thể chia nhỏ thành các dạng khu trú ở thận (Hội chứng tan máu tăng urê huyết liên quan đến E.coli) và dạng hệ thống (bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối). Một loạt các loại thuốc có thể gây nên huyết khối mao mạch, gồm ức chế Calcineurin (Cyclosporin và Tacrolimus), Quinin, chống kết tập tiểu cầu (Ticlopidin), và hóa trị liệu (Mitomycin C và Gemcitabin). Những rối loạn liên quan đến xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối gồm nhiễm HIV, ghép tủy xương, lupus ban đỏ hệ thống, và hội chứng kháng phospholipid.

Suy thận sau thận là do tắc nghẽn đường tiết niệu, gặp nhiều ở khoa cấp cứu hơn là bệnh nhân đã nhập viện. Hay gặp ở nam hơn nữ, phần lớn thường do tắc niệu quản hoặc niệu đạo. Thỉnh thoảng, sỏi, nhú thận bị bong, hoặc bệnh ác tính (nguyên phát hoặc di căn) có thể gây tắc nghẽn đầu gần nhiều hơn.

Bảng. NHỮNG NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP CỦA SUY THẬN CẤP

Trước thận

Giảm thể tích.

Mất máu:

   1. Mất dịch tiêu hóa (ví dụ: nôn, tiêu chảy)

   2. Dùng lợi tiểu quá tích cực

Quá tải thể tích với tưới máu thận:

   1. Suy tim sung huyết

    2. Cung lượng tim thấp với rối loạn chức năng tâm thu

    3. Hiệu suất cao (ví dụ: thiếu máu, nhiễm độc giáp

Xơ gan

1. Giảm protein máu nặng

2. Bệnh mạch thận

3. Thuốc: NSAIDs, Cyclosporin, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể ATII, Cisplatin, các Aminoglycosid

Khác:

   Tăng canxi máu, “khoang thứ ba” (ví dụ: viêm tụy, phản ứng viêm toàn thân), hội chứng gan thận

Tại thận

Hoại tử ống thận cấp:

   1. Tụt huyết áp hoặc sốc, tăng urê huyết trước thận kéo dài, hội chứng nhiễm khuẩn huyết hậu phẫu, tiêu cơ vân, tan máu, thuốc

   2. Thuốc cản quang, các Aminoglycosid, Cisplatin

Bệnh ống-kẽ khác:

   1. Viêm kẽ thận dị ứng

   2. Viêm bể thận (hai bên hoặc một bên ở thận đơn chức năng)

   3. Nhiễm độc kim loại nặng

Bệnh vữa xơ tắc mạch-sau can thiệp mạch, làm tan huyết khối, hoặc dùng thuốc chống đông

Viêm cầu thận:

   1. Bệnh liên quan tới kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân: bệnh u hạt với viêm đa mạch (bệnh Wegener), viêm cầu thận thể không lắng đọng phức hợp miễn dịch vô căn, viêm đa động mạch nút

   2. Bệnh liên quan tới kháng thể kháng màng đáy cầu thận; liên quan đến hoặc kèm theo sự tham gia của phổi (hội chứng Goodpasture)

   3. Trung gian phức hợp miễn dịch

Viêm nội tâm mạc bán cấp do vi khuẩn, lupus ban đỏ hệ thống, chứng Cryoglobulin huyết (có hoặc không nhiễm virut viêm gan C), viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn (thường sau nhiễm liên cầu)

Bệnh thận IgA và ban xuất huyết Schönlein-Henoch

Các bệnh nội mô cầu thận

   Huyết khối mao mạch, tăng huyết áp ác tính, xơ cứng bì, hội chứng kháng phospholipid, tiền sản giật

Sau thận (tắc nghẽn đường tiết niệu)

Tắc nghẽn cổ bàng quang, sỏi bàng quang

Phì đại tuyến tiền liệt

Tắc nghẽn niệu quản do đè ép: Bệnh ác tính vùng chậu hoặc vùng bung, xơ hóa sau phúc mạc

Sỏi thận:

Hoại tử nhú thận kèm tắc nghẽn

Đặc trưng kết quả và chẩn đoán xâm lấn

Mọi bệnh nhân bị suy thận cấp biểu hiện một số mức độ của tăng urê huyết (tăng BUN và creatinin]. Các đặc điểm lâm sàng khác tùy thuộc vào nguyên nhân của bệnh thận. Bệnh nhân với tăng urê huyết trước thận do giảm thể tích luôn thấy tụt huyết áp tư thế đứng, nhịp nhanh, áp lực tĩnh mạch cảnhthấp, và  khô niêm mạc. Bệnh nhân với tăng urê huyết sau thận và suy tim sung huyết (hội chứng tim thận) có thể thấy phình tĩnh mạch cảnh, tiếng ngựa phi T3, và phù ngoại vi và phù phổi Vì vậy, thăm khám lâm sàng là cần thiết cho chẩn đoán suy thận cấp trước thận. Nói chung, tỉ lệ BUN/creatinin có xu hướng cao (>20:1), nhiều hơn ở suy tim sung huyết và suy giảm thể tích hơn là xơ. Axit uric cũng có thể tăng không tương xứng ở xơ gan trước thận (do tăng tái hấp thu ở ống lượn gần). Hóa sinh nước tiểu có xu hướng cho thấy nồng độ thấp của natri (<10–20 mmol/l, <10 ở hội chứng gan thận) và bài tiết phân đoạn của natri (FENa) <1% (Bảng).

Tổng phân tích nước tiểu thường thấy trụ trong và một ít trụ hạt, không có các tế bào hay mảnh tế bào. Siêu âm thận luôn là bình thường.

Bệnh nhân suy thận tại thận có nhiều phàn nàn. Viêm cầu thận thường kèm tăng huyết áp và phù nhẹ đến vừa (liên quan đến ứ natri và protein niệu, và thỉnh thoảng có đái máu đại thể). Một bệnh có từ trước và/hoặc các dấu hiệu và triệu chứng ngoài da có thể có nếu viêm cầu thận trong hoàn cảnh của bệnh hệ thống, ví dụ bệnh viêm mạch hoặc lupus ban đỏ hệ thống; có thể có ho ra máu hoặc xuất huyết phổi (bệnh viêm mạch và hội chứng Goodpasture), đau/viêm khớp (bệnh viêm mạch hoặc lupus ban đỏ hệ thống), viêm thanh mạc(lupus ban đỏ hệ thống), và viêm xoang vô căn (bệnh viêm mạch). Hóa sinh nước tiểu có thể không khác biệt với bệnh nhân suy thận trước thận; thực tế, một số bệnh nhân viêm cầu thận có giảm tưới máu thận (vì nhiễm khuẩn cầu thận hoặc thiếu máu cục bộ) với tăng renin máu tổng hơp dẫn đến tăng thể tích cấp và tăng huyết áp.

Xét nghiệm cặn nước tiểu có thể rất hữu ích trong những trường hợp này.

Trụ hồng cầu, bạch cầu, và các mảnh tế bào là những đặc điểm của viêm cầu thận; trụ hồng cầu rất hiếm khi thấy trong các điều kiện khác (độ đặc hiệu cao). Trong cấu trúc của viêm thận nhiễm khuẩn (viêm cầu thận hoặc viêm kẽ thận, xem bên dưới), có thể tăng cản âm thận khi siêu âm. Không giống với bệnh nhân viêm cầu thận, bệnh nhân bị viêm kẽ thận ít khi có tăng huyết áp hay protein niệu; phải kể đến là viêm kẽ thận liên quan tới thuốc NSAIDs, là bệnh có thể có protein niệu do tổn thương cầu thận thay đổi tối thiểu. Đái máu và đái mủ có thể có ở xét nghiệm nước tiểu. Xét nghiệm tìm cặn ở bệnh viêm kẽ thận dị ứng, bạch cầu ái toan chiếm ưu thế trong nước tiểu (>10%) với vết Wright hay Hansel; tuy nhiên, bạch cầu ái toan trong nước tiểu có thể tăng do nhiều nguyên nhân khác trong suy thận cấp. Trụ bạch cầu cũng có thể có, đặc biệt trong viêm bể thận.

Xét nghiệm cặn nước tiểu ở bệnh nhân có thiếu máu cục bộ hoặc hoại tử nhiễm độc ống thận cấp sẽ đặc trưng bởi trụ hạt màu nâu bẩn và trụ chứa tế bào nội mô ống thận; tế bào nội mô ống thận tự do cũng có thể thấy. FENa đặc biệt >1% trong hoại tử ống thận cấp, những có thể <1% ở bệnh nhân hoại tử ống thận cấp nhẹ, không có thiểu niệu (do tiêu cơ vân) và ở bệnh nhân có nền là những rối loạn trước thận, như là suy tim sung huyết hoặc xơ gan.

Bệnh nhân suy thận sau thận do tắc nghẽn đường tiết niệu thường ít bị nặng hơn suy thận trước và tại thận, và những biểu hiện của bệnh chỉ thấy được khi tăng urê huyết rõ rệt [BUN >54 μmol/l (150 mg/dl), Cr >1060–1325 μmol/l (12–15 mg/dl)]. Sự giảm cô đọng nước tiểu thường bảo vệ bệnh nhân khỏi các biến chứng của quá tải dịch. Điện giải niệu luôn cho thấy FENa >1%, và soi cặn nước tiểu bằng kính hiển vi cho kết quả bình thường.

Siêu âm là chìa khóa giúp chẩn đoán. Có hơn 90% bệnh nhân suy thận cấp sau thận có tắc nghẽn đường tiết niệu trên siêu âm (giãn niệu quản, đài thận); âm tính giả gồm tắc ở sâu và niệu quản và/hoặc thận bị che lấp bởi khối u hoặc do xơ hóa sau màng bụng, cản trở dòng nước tiểu về mặt chức năng mà không có dãn nở về cấu trúc.

Bảng. CÁC CHỈ SỐ NƯỚC TIỂU TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT TĂNG URÊ HUYẾT TRƯỚC VỚI TẠI THẬN

Các chỉ số suy thận cấp

aChỉ số nhạy nhất

Các từ viết tắt: BUN: nitơ từ urê máu; PCr: nồng độ creatinin huyết tương; PNa: Nồng độ natri huyết tương; UCr: Nồng độ creatinin nước tiểu; UNa: nồng độ natri nước tiểu.

Điều trị suy thận cấp

Điều trị nên tập trung vào các nguyên nhân cụ thể. Ví dụ, bệnh nhân suy thận trước thận do mất dịch tiêu hóa có thể thoát khỏi suy thận cấp khá nhanh sau cung cấp dịch đường tĩnh mạch để tăng thể tích. Điều trị tương tự với suy thận trước thận với suy tim sung huyết sẽ phản tác dụng; trong trường hợp này, điều trị bệnh nền với thuốc giãn mạch và/hoặc thuốc tăng co mang lại nhiều lợi ích hơn.

Có ít nguyên nhân tại thận của suy thận cấp mà có biện pháp điều trị an toàn và hiệu quả. Viêm cầu thận liên quan đến bệnh viêm mạch hay lupus ban đỏ hệ thống có thể đáp ứng với glucocorticoid liều cao và thuốc gây độc tế bào (Cyclophosphamid); phương pháp điều trị bằng huyết tương đã tinh chế và thay huyết tương có thể hữu ích trong những trường hợp khác (hội chứng Goodpasture và hội chứng tan huyết urê huyết/xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối). Liệu pháp kháng sinh có thể đủ để điều trị suy thận cấp với viêm bể thận hoặc viêm nội tâm mạc. Có những quan điểm trái ngược về lợi ích của Glucocorticoid trong viêm kẽ thận dị ứng. Nhiều người bảo vệ ý kiến của họ với bằng chứng lâm sàng của suy thận tiến triển mặc dù ngưng thuốc độc với thận, hoặc bằng chứng sinh thiết của khả năng hồi phục, bệnh nặng.

Điều trị tắc nghẽn đường dẫn niệu thường phải hội chẩn với một bác sĩ niệu học. Các can thiệp đơn giản như đặt sonde Foley hoặc phức tạp như đặt stent niệu quản và/hoặc dẫn lưu thận có thể đặt ra.

Lọc máu trong suy thận cấp và phục hồi chức năng thận

Phần lớn trường hợp suy thận cấp ở cộng đồng hay trong bệnh viện được điều trị với phương pháp bảo tồn, thời gian, và kiên trì. Nếu tổn thương suy thận cấp không trước thận vẫn tiếp diễn thì lọc máu phải được đặt ra. Chỉ định của lọc máu gồm quá tải dịch kháng thuốc lợi tiểu; tăng kali máu; bệnh não mà không giải thích bằng cách nào khác; viêm màng ngoài tim, viêm màng phổi, hoặc các viêm thanh mạc nhiễm khuẩn khác; và nhiễm toan chuyển hóa nặng, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp hoặc tuần hoàn-có thể phục hồi tổn thương từ bệnh cấp ngoài thận. Vì vậy, lọc máu cần được chỉ định rộng trong những trường hợp trên. Không có khả năng cung cấp đủ dịch cần thiết cho kháng sinh, thuốc làm tăng co cơ và các thuốc khác, và/hoặc chất dinh dưỡng cũng nên được chỉ định lọc máu cấp.

Các chọn lựa lọc máu cho suy thận cấp gồm (1) chạy thận nhân tạo liên tục, (2) lọc màng bụng, và (3) liệu pháp thay thế thận liên tục (phương pháp thẩm tách-siêu lọc máu tĩnh-tĩnh mạch hoặc động-tĩnh mạch liên tục).

Phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng chạy thận nhân tạo liên tục. Chưa rõ liệu lọc máu 3 lần một tuần là đủ hay cần nhiều hơn. Ít trung tâm dựa vào lọc màng bụng để điều trị suy thận cấp (các nguy cơ gồm nhiễm khuẩn liên quan đến đặt ống thông trong màng bụng và suy hô hấp do chướng bụng). Ở một vài trung tâm, liệu pháp thay thế thận liên tục chỉ được chỉ định khi bệnh nhân không chạy thận nhân tạo liên tục được, thường là do tăng huyết áp; những nơi khác thì dùng phương pháp này như một chọn lựa cho bệnh nhân ở khoa hồi sức tích cực. Kỹ thuật lọc máu Hybrid, là một lọc máu chậm hiệu quả thấp, có thể được dùng ở những nơi mà liệu pháp thay thể thận liên tục không sử dụng được.

Bài viết cùng chuyên mục

Liệt đa dây thần kinh sọ

Rối loạn vận động hoàn toàn mà không thiểu dưỡng thì nghi ngờ bệnh nhược cơ, liệt hai bên mặt thì phổ biến trong hội chứng Guillain-Barré.

Chụp cắt lớp vi tính (CT): nguyên lý nội khoa

CT của não là một kiểm tra quan trọng trong việc đánh giá một bệnh nhân với những thay đổi trạng thái tâm thần để loại trừ các thực thể như chảy máu nội sọ, hiệu ứng khối.

Viêm khớp phản ứng: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Viêm khớp phản ứng liên quan đến viêm khớp cấp tính không có mủ đang có biến chứng nhiễm trùng nơi khác trong cơ thể.

Điện tâm đồ: nguyên lý nội khoa

Hệ thống mặt phẳng trán đứng dọc được dùng để tính trục điện học, độ lệch của QRS trong mỗi chuyển đạo xác định là lớn nhất và nhỏ nhất.

Hội chứng mệt mỏi mãn tính: nguyên lý nội khoa

Điều trị CFS khởi đầu bằng sự nhận biết của bác sĩ dựa vào sự suy giảm các chức năng hằng ngày của bệnh nhân. Thông tin cho bệnh nhân những hiểu biết hiện tại về CFS.

Bệnh thoái hóa dạng bột ống thận: nguyên lý nội khoa

Bệnh nhân không thể toan hóa nước tiểu mặc dù nhiễm toan hệ thống; có khoảng trống anion, phản ánh một sự giảm bài tiết amoni.

Ung thư tụy và u tuyến nội tiết của đường tiêu hóa và tụy

U tiết glucagon liên quan đến đái tháo đường và ban đỏ di truyền hoại tử, a characteristic red, raised, scaly rash thường ở vị trí vùng mặt, bụng, perineum, and distal extremities.

Bệnh Wilson: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán là mức độ đồng cao khi sinh thiết gan, Xét nghiệm di truyền thường không được làm vì rất nhiều loại đột biến.

Ho: nguyên lý nội khoa

Các vấn đề quan trọng trong bệnh sử gồm yếu tố thúc đẩy ho, yếu tố gây tăng và giảm ho, và sự xuất đàm. Đánh giá các triệu chứng của bệnh ở mũi hầu, gồm chảy mũi sau, hắt hơi.

Hạ canxi máu: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Giảm calci máu thoáng qua thường xảy ra ở những bệnh nhân nặng bị bỏng, nhiễm trùng huyết và suy thận cấp, sau truyền máu do có muối citrate chống đông máu.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: nguyên lý nội khoa

Năng lượng trung bình nhập vào khoảng 2800 kcal một ngày cho đàn ông và khoảng 1800 kcal một ngày cho phụ nữ, mặc dù sự tính toán này còn phụ thuộc vào tuổi, trọng lượng cơ thể.

Viêm gan mãn tính: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Một số bệnh nhân có xuất hiện các biến chứng xơ gan: cổ trướng, dãn tĩnh mạch chảy máu, bệnh lý não, và lách to.

Loét dạ dày tá tràng (PUD): nguyên lý nội khoa

Hàng rào niêm mạch tá tràng bị xâm nhập bởi các tác động động hại của H, pylori ở vùng chuyển tiếp dạ dày, nguyên nhân do tăng tiết acid dịch vị hoặc hội chứng dạ dày rỗng nhanh chóng.

Mê sảng: nguyên lý nội khoa

Cách tiếp cận hiệu quả nhất để đánh giá mê sảng cho phép bệnh sử và khám lâm sàng định hướng cận lâm sàng. Không có trình tự đơn giản nào phù hợp với tất cả các bệnh nhân.

Hội chứng chuyển hoá: nguyên lý nội khoa

Sự gia tăng các chất chuyển hoá của acid béo nội bào góp phần vào sự đề kháng insulin bằng cách hạn chế con đường tín hiệu insulin và gây tích tụ triglycerides ở xương.

Đau vùng chậu: rối loạn hệ sinh sản nữ giới

Xác định liệu rằng cơn đau là cấp tính hay mãn tính, liên tục hay co thắt từng đợt, và theo chu kỳ hay không theo chu kỳ sẽ giúp chỉ định thêm các xét nghiệm.

Mề đay và phù mạch: bệnh quá mẫn tức thì (typ I)

Đặc trưng bởi hình thành khối phù lớn ở hạ bì, Có lẽ phù nền là do tăng tính thấm thành mạch gây nên bởi sự phóng thích các chất trung gian từ tế bào mast.

Viêm cầu thận tiến triển nhanh: nguyên lý nội khoa

Điều trị chuẩn ban đầu cho viêm cầu thận tiến triển nhanh liên quan đến kháng thể kháng bạch cầu đa nhân gồm Methylprednisolon và Cyclophosphamid.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô.

Ngộ độc và quá liều thuốc

Carbon monoxid là nguyên nhân hàng đầu gây chết do ngộ độc. Ngộ độc Acetaminophen là thuốc phổ biến nhất gây tử vong. Tử vong do các thuốc khác thường do thuốc giảm đau.

Xanh tím: nguyên lý nội khoa

Ngón tay dùi trống có thể do di truyền, vô căn hoặc mắc phải do ung thư phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, giãn phế quản, hoặc xơ gan.

Cổ trướng do xơ gan: nguyên lý nội khoa

Nguy cơ tăng ở bệnh nhân có xuất huyết tĩnh mạch thực quản và khuyến cáo dự phòng viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn khi bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết tiêu hoá trên.

Ho ra máu: nguyên lý nội khoa

Khái huyết thường có nguồn gốc từ phế quản có kích thước từ nhỏ đến trung bình. Vì nguồn cấp máu thường là từ động mạch phế quản, nên có khả năng mất máu nhanh chóng.

Bệnh van tim: nguyên lý nội khoa

Triệu chứng thường xảy ra ở độ tuổi 40, nhưng hẹp van hai lá thường gây mất chức năng nặng ở độ tuổi sớm hơn ở các nước đang phát triển. Triệu chứng chính là khó thở và phù phổi do gắng sức.

Phù phổi độ cao

Phù phổi không do nguyên nhân tim mạch biểu hiện là co mạch phổi không đều dẫn đến tăng tái tưới máu quá mực ở một vài nơi. Giảm giải phóng nitric oxide do giảm oxy huyết.