- Trang chủ
- Phác đồ - Test
- Nguyên lý y học nội khoa
- Mãn kinh: rối loạn hệ sinh sản nữ giới
Mãn kinh: rối loạn hệ sinh sản nữ giới
Các triệu chứng mãn kinh thường gặp nhất là vận mạch không ổn định, thay đổi tâm trạng, mất ngủ, và teo biểu mô niệu sinh dục và da.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Các hormon tuyến yên, hormone tạo hoàng thể (LH) và hormone kích thích nang trứng (FSH), kích thích phát triển nang trứng và gây rụng trứng vào khoảng ngày 14 của chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày.
Nguyên nhân mãn kinh
Thời kỳ mãn kinh được định nghĩa là kì cuối cùng của chu kì kinh nguyệt và trung bình xảy ra ở 51 tuổi. Đó là hậu quả của sự suy giảm của các nang buồng trứng hoặc cắt buồng trứng. Bắt đầu là thời kì tiền mãn kinh, khi giảm khả năng sinh sản và kinh nguyệt ngày càng không đều, trước kỳ kinh nguyệt cuối cùng từ 2-8 năm.
Đặc điểm lâm sàng mãn kinh
Các triệu chứng mãn kinh thường gặp nhất là vận mạch không ổn định (các cơn nóng bừng và đổ mồ hôi ban đêm), thay đổi tâm trạng (căng thẳng, lo lắng, khó chịu, và trầm cảm), mất ngủ, và teo biểu mô niệu sinh dục và da. Nồng độ FSH ≥ 40 IU/L với nồng độ estradiol < 30 pg/ml.
Điều trị mãn kinh
Trong thời gian mãn kinh, kết hợp uống thuốc tránh thai liều thấp có thể có lợi. Việc sử dụng hợp lý các liệu pháp hormone sau mãn kinh đòi hỏi phải cân bằng lợi ích và nguy cơ tiềm ẩn. Phải lưu ý nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú, bệnh huyết khối tắc mạch, và bệnh túi mật, cũng như có thể tăng nguy cơ đột quỵ, tai biến tim mạch và ung thư buồng trứng. Những tác dụng có lợi bao gồm chậm mất xương sau mãn kinh và có thể giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng và bệnh đái tháo đường. Điều trị ngắn hạn (<5 năm) có thể có ích trong việc kiểm soát các triệu chứng khó chịu của mãn kinh, miễn là không có chống chỉ định. Chống chỉ định bao gồm ra máu âm đạo không rõ nguyên nhân, bệnh gan, huyết khối tĩnh mạch, tiền sử ung thư nội mạc tử cung (trừ giai đoạn I mà không xâm lấn sâu), ung thư vú, mắc bệnh tim mạch trước đó và tiểu đường. Tăng triglyceride (> 400 mg/dL) và đang bị bệnh túi mật là chống chỉ định tương đối. Phương pháp điều trị triệu chứng bao gồm venlafaxine, fluoxetine, paroxetine, gabapentin, clonidin, vitamin E, hoặc các sản phẩm từ đậu nành. Viên estradiol đặt âm đạo có thể được sử dụng khi có các triệu chứng cơ quan sinh dục tiết niệu. Điều trị dài hạn (≥ 5 năm) nên được thực hiện chỉ sau khi xem xét cẩn thận, đặc biệt là quan niệm về phương pháp điều trị thay thế cho bệnh loãng xương (bisphosphonates, raloxifene) và các nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và ung thư vú. Estrogen nên được dùng liều hiệu quả tối thiểu (estrogen liên hợp, 0.625mg/ngày đường uống; micronized estradiol, 1,0mg/ngày đường uống, hoặc estradiol thẩm thấu qua da, 0,05-1,0mg một lần hoặc hai lần một tuần). Phụ nữ có tử cung còn nguyên vẹn nên được dùng estrogen kết hợp với progestin (medroxyprogesterone hoặc theo chu kỳ, 5-10mg/ngày đường uống cho ngày 15-25 mỗi tháng, hoặc liên tục, 2,5mg/ngày đường uống) để tránh tăng nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung và sử dụng estrogen không mấy khó khăn.
Bài viết cùng chuyên mục
Ngất: nguyên lý nội khoa
Các rối loạn khác phải được phân biệt với ngất, bao gồm động kinh, thiếu máu động mạch sống nền, hạ oxy máu, và hạ đường huyết.
Đau vai và cổ: nguyên lý nội khoa
Viêm xương khớp cột sống cổ có thể gây đau cổ lan ra sau đầu, lưng hoặc tay, có thể là nguyên nhân đau đầu vùng chẩm sau. Có thể xuất hiện kết hợp bệnh lý rễ và tủy.
Nhiễm khuẩn tai ngoài: nguyên lý nội khoa
Điều trị đòi hỏi phải dùng kháng sinh hoạt động toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh phổ biến nhất, Pseudomonas aeruginosa và S. aureus, và thường bao gồm một penicilin.
Nhiễm toan ceton do đái tháo đường: nguyên lý nội khoa
Nhiễm ceton do đái tháo đường do thiếu insulin có liên quan hoặc không với tăng tuyệt đối glucagon và có thể gây ra bởi dùng insulin không đủ liều, nhiễm trùng.
Bệnh thận mạn tính và urê huyết: nguyên lý nội khoa
Tăng phosphat máu, thiếu máu, và những bất thường trong xét nghiệm khác không phải là chỉ số đáng tin cậy trong phân biệt bệnh cấp và mạn tính.
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô.
Co giật và động kinh: nguyên lý chẩn đoán và điều trị
Khám tổng quát gồm tìm kiếm chỗ nhiễm trùng, chán thương, độc chất, bệnh hệ thống, bất thường thần kinh da, và bệnh mạch máu.
Hội chứng tĩnh mạch chủ trên ở bệnh nhân ung thư
Xạ trị là lựa chọn điều trị đới với ung thư phổi không tế bào nhỏ, kết hợp hóa trị với xạ trị có hiệu quả trong ung thư phổi tế bào nhỏ và u lympho.
Xanh tím: nguyên lý nội khoa
Ngón tay dùi trống có thể do di truyền, vô căn hoặc mắc phải do ung thư phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, giãn phế quản, hoặc xơ gan.
Nuốt nghẹn: nguyên lý nội khoa
Xem xét điều trị thử thuốc chống trào ngược, nếu không đáp ứng, theo dõi pH thực quản lưu động 24 giờ, nếu âm tính, đo áp lực thực quản có thể biết được rối loạn vận động.
Đau ngực: nguyên lý nội khoa
ECG quan trọng trong đánh giá ban đầu để nhanh chóng phân biệt bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên, bệnh nhân cần được điều trị tái tưới máu ngay lập tức.
Thiếu máu do tăng phá hủy hồng cầu và chảy máu cấp
Tương tự, các nguyên nhân mắc phải có mối liên hệ với các yếu tố ngoài hồng cầu vì hầu hết các yếu tố này là ngoại sinh. Trường hợp ngoại lệ là hồng cầu tan máu ure máu có tính gia đình.
Viêm cầu thận tiến triển nhanh: nguyên lý nội khoa
Điều trị chuẩn ban đầu cho viêm cầu thận tiến triển nhanh liên quan đến kháng thể kháng bạch cầu đa nhân gồm Methylprednisolon và Cyclophosphamid.
Ung thư da tế bào hắc tố: nguyên lý nội khoa
Temozolomide là thuốc uống liên quan tới dacarbazine có nhiều tác dụng. Nó có thể vào hệ thần kinh trung ương và được đánh giá với xạ trị cho di căn hệ thần kinh trung ương.
Khám tâm thần
Ký ức xa hơn được đánh giá bằng khả năng cung cấp bệnh sử hay hoạt động sống cá nhân của bệnh nhân theo trình tự thời gian.
Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân giai đoạn cuối đời
Chăm sóc tối ưu phụ thuộc vào một đánh giá toàn diện nhu cầu của bệnh nhân trong cả bốn lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi bệnh tật: thể chất tâm lý, xã hội, và tinh thần.
Một số bệnh rối loạn xương
Điều trị bệnh lý nền đường ruột, NSAIDs có thể làm giảm các triệu chứng ở khớp nhưng có thể làm bùng phát bệnh đường ruột.
Phối hợp vận động và tư thế dáng bộ
Đánh giá cử động thay đổi nhanh của ngón tay, ngón chân, nghiệm pháp ngón tay chạm mũi, Quan sát bệnh nhân khi họ đi trên đường thẳng.
Các polyp đại tràng: nguyên lý nội khoa
Lan tỏa các polyp tuyến toàn bộ đại tràng lên tới vài nghìn polyp di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường cùng với sự mất đoạn trong gen đa polyp tuyến trên nhiễm sắc thể số 5
Bệnh gan do rượu: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Rối loạn chức năng của ty nạp thể, cảm ứng enzym vi thể làm thay đổi chuyển hóa thuốc peroxy hóa lipid làm tổn thương màng.
Viêm xơ đường mật nguyên phát: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Cholestyramine giúp kiểm soát ngứa. Bổ sung vitamin D và calci có thể làm chậm quá trình mất xương.
Phù phổi độ cao
Phù phổi không do nguyên nhân tim mạch biểu hiện là co mạch phổi không đều dẫn đến tăng tái tưới máu quá mực ở một vài nơi. Giảm giải phóng nitric oxide do giảm oxy huyết.
Các bệnh da nhiễm khuẩn hay gặp
Viêm mô tế bào ngoài da, phổ biến nhất là ở mặt, đặc trưng bởi mảng tổn thương màu đỏ tươi, ranh giới rõ, đau nhiều, ấm. Do ngoài da bị nhiễm trùng và phù nề.
Chọc dịch màng bụng: nguyên lý nội khoa
Đối với một chọc lớn khối lượng, hệ thống hút trực tiếp vào thùng chứa chân không lớn sử dụng kết nối ống là một lựa chọn thường được sử dụng.
Sốc phản vệ: nguyên lý nội khoa
Thời gian khởi phát rất đa dạng, nhưng các triệu chứng thường xảy ra trong khoảng vài giấy đến vài phút sau phơi nhiễm với kháng nguyên dị ứng.
