Mất ngôn ngữ: nguyên lý nội khoa

2018-02-20 02:00 PM

Mặc dù các lời nói nghe có vẻ đúng ngữ pháp, hài hòa và trôi chảy, nhưng hầu như là không hiểu được do lỗi về cách dùng từ, cấu trúc, thì và có các lỗi loạn dùng từ ngữ.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Mất ngôn ngữ là các rối loạn hiểu và tạo ra ngôn ngữ nói hay viết. Khám lâm sàng nên đánh giá các lời nói tự phát (sự lưu loát), sự hiểu, lặp lại, gọi tên, đọc và viết. Phân loại như trong Bảng. Hầu hết tất cả người thuận tay phải và nhiều bệnh nhân thuận tay trái có vùng ngôn ngữ nằm ở bán cầu não trái.

Lâm sàng

Mất ngôn ngữ Wernicke

Mặc dù các lời nói nghe có vẻ đúng ngữ pháp, hài hòa và trôi chảy, nhưng hầu như là không hiểu được do lỗi về cách dùng từ, cấu trúc, thì và có các lỗi loạn dùng từ ngữ (paraphasia) và các từ vô nghĩa (“biệt ngôn”). Sự thông hiểu ngôn ngữ nói và viết bị suy giảm nặng cũng như khả năng đọc, viết và lặp lại. Bệnh nhân dường như không nhận thức được vấn đề của mình. Các triệu chứng liên quan có thể gồm các rối loạn cảm giác thùy đỉnh và bán manh đồng danh. Hiếm khi có rối loạn vận động.

Tổn thương thường nằm ở khu vực quanh rãnh Sylvius. Nguyên nhân phổ biến nhất là thuyên tắc thân dưới (inferior division) của động mạch não giữa (MCA) ở bán cầu ưu thế; các nguyên nhân ít phổ biến hơn bao gồm xuất huyết trong não, chấn thương đầu nặng và u não.

Bảng. LÂM SÀNG MẤT NGÔN NGỮ VÀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN

Mất ngôn ngữ

Mất ngôn ngữ Broca

Lời nói không lưu loát, chậm, phải cố gắng, bị gián đoạn do phải dừng lại tìm từ và thường là loạn ngôn; lời nói thường bị gián đoạn do một từ nói nhảm (grunt) hay 1 từ đơn nào đó. Khả năng gọi tên và lặp lại cũng giảm. Hầu hết bệnh nhân suy giảm nặng khả năng viết. Sự thông hiểu ngôn ngữ nói và viết thường còn bảo tồn. Bệnh nhân thường nhận ra và thấy khó chịu về vấn đề của mình. Với các tổn thương lớn, yếu nửa người cũng có thể xảy ra và mắt có thể lệch về phía não bị tổn thương. Phổ biến hơn, có yếu nhẹ ở tay và mặt đối bên. Hiếm khi mất cảm giác và thị trường nhìn cũng còn bảo tồn.

Tổn thương ảnh hưởng chủ yếu đến hồi trán dưới của bán cầu ưu thế (vùng Broca), mặc dù vùng vỏ và dưới vỏ dọc theo phía trên rãnh Sylvius và thùy đảo cũng thường bị ảnh hưởng. Nguyên nhân phổ biến là do tổn thương mạch máu ở thân trên của động mạch não giữa (MCA); ít phổ biến hơn là do u, xuất huyết trong não và áp xe.

Mất ngôn ngữ toàn bộ (Global Aphasia)

Tất cả các mặt về lời nói và ngôn ngữ đều suy giảm. Bệnh nhân không thể đọc, viết hay lặp lại và khả năng thông hiểu ngôn ngữ nói kém. Lời nói phát ra thường rất nhỏ và không trôi chảy. Liệt nửa người, mất cảm giác nửa người, và bán manh đồng danh cũng thường có.

Hội chứng này là sự rối loạn chức năng của cả vùng Wernicke và Broca, thường do tắc đoạn gần của động mạch não giữa của bán cầu ưu thế (ít phổ biến hơn là xuất huyết, chấn thương và u).

Mất ngôn ngữ dẫn truyền (conduction)

Lời nói lưu loát nhưng dùng từ sai nghĩa, vẫn còn hiểu được ngôn ngữ nói, nhưng khả năng lặp lại thì suy giảm nghiêm trọng cũng như khả năng gọi tên và khả năng viết. Tổn thương thì nhỏ nhưng làm mất liên hệ về mặt chức năng giữa vùng Broca và Wernicke. Hầu hết là do thuyên tắc ảnh hưởng đến hồi trên viền của thùy đỉnh bán cầu ưu thế, thùy thái dương bán cầu ưu thế hay bó cong(arcuate fasciculus).

Đánh giá cận lâm sàng

CT và MRI thường có thể nhận ra vị trí và bản chất của thương tổn.

Điều trị mất ngôn ngữ

Liệu pháp lời nói (speech therapy) có thể hữu ích với một số typ mất ngôn ngữ nhất định.

Nếu tổn thương là do đột quỵ thì sự phục hồi chức năng ngôn ngữ thường đạt đỉnh trong vòng 2-6 tháng, sau đó thì hạn chế dần.

Bài viết cùng chuyên mục

Buồn ngủ ngày quá mức

Phân biệt sự buồn ngủ do sự mệt mỏi chủ quan của người bệnh có thể khó khăn. Đo thời gian ngủ ngày có thể thực hiện ở phòng thí nghiệm kiểm tra các giấc ngủ ban ngày.

Bệnh trung thất: nguyên lý nội khoa

Có nhiều loại u trung thất khác nhau được xác định tại trung thất trước, giữa và sau. Các khối u hay gặp nhất trong trung thất trước là u tuyến ức, u lympho, u teratom và khối tuyến giáp.

Bệnh Alzheimer: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh Alzheimer không thể chữa, và thuốc không có hiệu quả cao, chủ yếu là sử dụng thận trọng thuốc ức chế cholinesterase, quản lý triệu chứng của vấn đề hành vi.

Tăng thân nhiệt: nguyên lý nội khoa

Khó phân biệt được sốt hay tăng thân nhiệt. Bệnh sử thường rất hữu ích, ví dụ tiền căn tiếp xúc nhiệt độ hay điều trị bằng các loại thuốc ảnh hưởng đến quá trình điều nhiệt.

Ung thư đầu và cổ: nguyên lý nội khoa

Tổn thương vòm họng thường không tạo ra triệu chứng cho đến khi giai đoạn muộn và sau đó gây viêm tai giữa huyết thanh một bên hay nghẹt mũi hay chảy máu mũi.

Một số vấn đề về độ cao

Đầy hơi, bụng trướng,trung tiên nhiều có thể do giảm áp xuất khí quyển. Tiêu chảy không liên quan đến độ cao nhưng có thể do vi khuẩn kí sinh trùng, một vấn đề phổ biến.

Phòng các biến chứng của xơ vữa động mạch

Các hướng dẫn Chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia dựa trên nồng độ LDL huyết tương và các yếu tố nguy cơ khác.

Điều trị đau: nguyên lý nội khoa

Thuốc giảm đau có chất gây nghiện dùng đường uống hoặc đường tiêm có thể dùng trong nhiều trường hợp đau nặng. Đây là những thuốc hiệu quả nhất.

Tiếp cận theo dõi monitor: nguyên lý nội khoa

Các sai sót y khoa thường xảy ra ở ICU. Các tiến bộ về kĩ thuật cho phép nhiều bệnh nhân ít hoặc không có cơ hội phục hồi có nhiều cơ hội hơn khi nằm ở ICU.

Bỏng lạnh: nguyên lý nội khoa

Các triệu chứng luôn gồm khiếm khuyết cảm giác sờ nông, đau, và cảm nhận nhiệt, Mô bị bỏng lạnh sâu có thể giống như sáp, xuất hiện các vết đốm, màu vàng hoặc tráng nhợt hơi tím.

Bệnh lý tĩnh mạch và bạch huyết

DVT có thể phòng bằng cách đi lại sớm sau phẫu thuật hoặc heparin khối lượng phân tử liều thấp trong quá trình nằm giường bệnh kéo dài.

Bệnh thận mạn tính và urê huyết: nguyên lý nội khoa

Tăng phosphat máu, thiếu máu, và những bất thường trong xét nghiệm khác không phải là chỉ số đáng tin cậy trong phân biệt bệnh cấp và mạn tính.

Bất thường hormon tuyến giáp không do tuyến giáp

Bất kỳ bệnh nặng cấp tính nào cũng có thể gây ra những bất thường nồng độ hormone tuyến giáp hoặc TSH trong máu.

Sốt: nguyên lý nội khoa

Điểm định nhiệt vùng dưới đồi tăng, gây co mạch ngoại biên, Bệnh nhân cảm thấy lạnh do máu chuyển về cơ quan nội tạng. Cơ chế của sinh nhiệt giúp tăng nhiệt độ cơ thể.

Chọc dò màng phổi: nguyên lý nội khoa

Chọc từ phía sau là vị trí ưa thích để chọc dò. Chọn vị trí thuận lợi thì dễ dàng cho cả bệnh nhân và bác sĩ. Bệnh nhân nên ngồi ở góc giường, gập người ra trước, 2 tay ôm gối.

Chất độc hóa học làm dộp da

Khử độc ngay lập tức là cần thiết để giảm thiểu tổn thương. Cởi bỏ quần áo và rửa sạch da nhẹ nhàng bằng xà phòng và nước. Mắt nên rửa sạch với nhiều nước hoặc nước muối.

Bệnh mô liên kết hỗn hợp (MSTD)

Bất thường xét nghiệm gồm nồng độ cao các kháng thể kháng nhân, nồng độ rất cao kháng thể kháng ribonucleoprotein.

Tăng calci máu ở bệnh nhân ung thư

Giảm albumin máu liên quan đến bệnh lý ác tính có thể làm triệu chứng nặng hơn tùy theo nồng độ canxi huyết thanh vì càng nhiều canxi sẽ làm tăng lượng canxi tự do hơn lượng gắn kết với protein.

Tâm phế mãn: nguyên lý nội khoa

Thở nhanh, nhịp đập thất phải dọc bờ trái xương ức, tiếng P2 lớn, tiếng T4 nghe bên phải, xanh tím, móng tay dùi trống là những biểu hiện muộn.

Tiếp cận bệnh nhân sốc: nguyên lý nội khoa

Mặc dù hạ huyết áp thì thường thấy được trong sốc, nhưng không có một ngưỡng huyết áp riêng nào để xác định được sốc. Sốc có thể là do giảm lưu lượng máu.

Lọc máu thận nhân tạo và lọc màng bụng

Tuy nhiên, chỉ định lọc máu sớm cho bệnh nhân, từ trước cho đến khi có các dấu hiệu lâm sàng, không củng cố được kết quả của bệnh thận giai đoạn cuối.

Cường Aldosteron: cường năng tuyến thượng thận

Chẩn đoán được gợi ý khi tăng huyết áp kháng trị kết hợp với hạ kali máu kéo dài ở bệnh nhân không bị phù và không dùng lợi tiểu gây giảm kali.

Bệnh gan do rượu: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Rối loạn chức năng của ty nạp thể, cảm ứng enzym vi thể làm thay đổi chuyển hóa thuốc peroxy hóa lipid làm tổn thương màng.

Bạch cầu cấp dòng tủy: nguyên lý nội khoa

Các yếu tố kích thích dòng có ít hoặc không có lợi ích, một số khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân lớn tuổi và những người có nhiễm trùng hoạt động

Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: nguyên lý nội khoa

Kê đơn kháng sinh không phù hợp trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên là một nguyên nhân hàng đầu của kháng kháng sinh của các tác nhân gây bệnh mắc phải trong cộng đồng như Streptococcus pneumoniae.