- Trang chủ
- Phác đồ - Test
- Nguyên lý y học nội khoa
- Mất ngôn ngữ: nguyên lý nội khoa
Mất ngôn ngữ: nguyên lý nội khoa
Mặc dù các lời nói nghe có vẻ đúng ngữ pháp, hài hòa và trôi chảy, nhưng hầu như là không hiểu được do lỗi về cách dùng từ, cấu trúc, thì và có các lỗi loạn dùng từ ngữ.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Mất ngôn ngữ là các rối loạn hiểu và tạo ra ngôn ngữ nói hay viết. Khám lâm sàng nên đánh giá các lời nói tự phát (sự lưu loát), sự hiểu, lặp lại, gọi tên, đọc và viết. Phân loại như trong Bảng. Hầu hết tất cả người thuận tay phải và nhiều bệnh nhân thuận tay trái có vùng ngôn ngữ nằm ở bán cầu não trái.
Lâm sàng
Mất ngôn ngữ Wernicke
Mặc dù các lời nói nghe có vẻ đúng ngữ pháp, hài hòa và trôi chảy, nhưng hầu như là không hiểu được do lỗi về cách dùng từ, cấu trúc, thì và có các lỗi loạn dùng từ ngữ (paraphasia) và các từ vô nghĩa (“biệt ngôn”). Sự thông hiểu ngôn ngữ nói và viết bị suy giảm nặng cũng như khả năng đọc, viết và lặp lại. Bệnh nhân dường như không nhận thức được vấn đề của mình. Các triệu chứng liên quan có thể gồm các rối loạn cảm giác thùy đỉnh và bán manh đồng danh. Hiếm khi có rối loạn vận động.
Tổn thương thường nằm ở khu vực quanh rãnh Sylvius. Nguyên nhân phổ biến nhất là thuyên tắc thân dưới (inferior division) của động mạch não giữa (MCA) ở bán cầu ưu thế; các nguyên nhân ít phổ biến hơn bao gồm xuất huyết trong não, chấn thương đầu nặng và u não.
Bảng. LÂM SÀNG MẤT NGÔN NGỮ VÀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN

Mất ngôn ngữ Broca
Lời nói không lưu loát, chậm, phải cố gắng, bị gián đoạn do phải dừng lại tìm từ và thường là loạn ngôn; lời nói thường bị gián đoạn do một từ nói nhảm (grunt) hay 1 từ đơn nào đó. Khả năng gọi tên và lặp lại cũng giảm. Hầu hết bệnh nhân suy giảm nặng khả năng viết. Sự thông hiểu ngôn ngữ nói và viết thường còn bảo tồn. Bệnh nhân thường nhận ra và thấy khó chịu về vấn đề của mình. Với các tổn thương lớn, yếu nửa người cũng có thể xảy ra và mắt có thể lệch về phía não bị tổn thương. Phổ biến hơn, có yếu nhẹ ở tay và mặt đối bên. Hiếm khi mất cảm giác và thị trường nhìn cũng còn bảo tồn.
Tổn thương ảnh hưởng chủ yếu đến hồi trán dưới của bán cầu ưu thế (vùng Broca), mặc dù vùng vỏ và dưới vỏ dọc theo phía trên rãnh Sylvius và thùy đảo cũng thường bị ảnh hưởng. Nguyên nhân phổ biến là do tổn thương mạch máu ở thân trên của động mạch não giữa (MCA); ít phổ biến hơn là do u, xuất huyết trong não và áp xe.
Mất ngôn ngữ toàn bộ (Global Aphasia)
Tất cả các mặt về lời nói và ngôn ngữ đều suy giảm. Bệnh nhân không thể đọc, viết hay lặp lại và khả năng thông hiểu ngôn ngữ nói kém. Lời nói phát ra thường rất nhỏ và không trôi chảy. Liệt nửa người, mất cảm giác nửa người, và bán manh đồng danh cũng thường có.
Hội chứng này là sự rối loạn chức năng của cả vùng Wernicke và Broca, thường do tắc đoạn gần của động mạch não giữa của bán cầu ưu thế (ít phổ biến hơn là xuất huyết, chấn thương và u).
Mất ngôn ngữ dẫn truyền (conduction)
Lời nói lưu loát nhưng dùng từ sai nghĩa, vẫn còn hiểu được ngôn ngữ nói, nhưng khả năng lặp lại thì suy giảm nghiêm trọng cũng như khả năng gọi tên và khả năng viết. Tổn thương thì nhỏ nhưng làm mất liên hệ về mặt chức năng giữa vùng Broca và Wernicke. Hầu hết là do thuyên tắc ảnh hưởng đến hồi trên viền của thùy đỉnh bán cầu ưu thế, thùy thái dương bán cầu ưu thế hay bó cong(arcuate fasciculus).
Đánh giá cận lâm sàng
CT và MRI thường có thể nhận ra vị trí và bản chất của thương tổn.
Điều trị mất ngôn ngữ
Liệu pháp lời nói (speech therapy) có thể hữu ích với một số typ mất ngôn ngữ nhất định.
Nếu tổn thương là do đột quỵ thì sự phục hồi chức năng ngôn ngữ thường đạt đỉnh trong vòng 2-6 tháng, sau đó thì hạn chế dần.
Bài viết cùng chuyên mục
Xuất huyết khoang dưới nhện: nguyên lý nội khoa
Đau đầu dữ dội, đột ngột thường kèm mất tri giác tạm thời lúc khởi phát; thường có nôn ói. Chảy máu có thể gây tổn thương mô não kế bên và gây khiếm khuyết thần kinh khu trú.
Nhện cắn: nguyên lý nội khoa
Vì hiệu quả còn nghi ngờ và yếu tố nguy cơ sốc phản vệ và bệnh huyết thanh, kháng nọc độc chỉ nên dành cho trường hợp nặng với ngưng hô hấp, tăng huyết áp khó trị, co giật hoặc thai kỳ.
Bệnh trung thất: nguyên lý nội khoa
Có nhiều loại u trung thất khác nhau được xác định tại trung thất trước, giữa và sau. Các khối u hay gặp nhất trong trung thất trước là u tuyến ức, u lympho, u teratom và khối tuyến giáp.
Hạ thận nhiệt: nguyên lý nội khoa
Nhiễm lạnh cấp gây nhịp tim nhanh, tăng cung lượng tim, co mạch ngoại biên và tăng kháng lực mạch máu ngoại biên, thở nhanh, tăng trương lực cơ vân, run lạnh và loạn vận ngôn.
Tiếp cận bệnh nhân chèn ép tủy sống
Trên những bệnh nhân có triệu chứng tuỷ sống, bước đầu tiên là loại trừ chèn ép do khối u có thể điều trị được. Bệnh lý chèn ép thường có các dấu hiệu cảnh báo.
Phù: nguyên lý nội khoa
Giới hạn ở một cơ quan đặc biệt hoặc giường mạch máu, dễ dàng phân biệt được với phù toàn thân, Phù một bên chi thường do tắc tĩnh mạch hoặc mạch bạch huyết
Viêm túi mật cấp: nguyên lý nội khoa
Phẫu thuật cắt có túi mật cấp trong phần lớn bệnh nhân nghi ngờ hoặc xác định có biến chứng. Trì hoãn phẫu thuật trong trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc chuẩn đoán nghi ngờ.
Truyền máu: nguyên lý nội khoa
Mục tiêu chính của thay máu là loại bỏ những hồng cầu lạ và thay bằng những hồng cầu bình thường để làm gián đoạn của chu trình tạo hồng cầu hình liềm, ứ trệ, tắc mạch.
Tăng natri máu: nguyên lý nội khoa
Ở bệnh nhân có tăng Natri máu do thận mất H2O, rất quantrọng trong xác định số lượng nước mất đang diễn ra hằng ngày ngoài việc tính toán lượng H2O thâm hụt.
Viêm cột sống dính khớp: nguyên lý chẩn đoán và điều trị
MRI là lựa chọn khi phim x quang không chuẩn bị không cho thấy bất thường khớp cùng-chậu và có thể cho thấy viêm nội khớp sớm, thay đổi sụn.
Viêm xoang cấp tính: nguyên lý nội khoa
Rất khó để phân biệt viêm xoang do virus hay vi khuẩn trên lâm sàng, mặc dù nguyên nhân do virus thường gặp nhiều hơn so với vi khuẩn.
Rối loạn nhịp nhanh: nguyên lý nội khoa
Loạn nhịp với phức bộ QRS rộng có thể gợi ý nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất với dẫn truyền rối loạn. Các yếu tố thúc đẩy nhịp nhanh thất bao gồm.
Tiếp cận bệnh nhân sốc: nguyên lý nội khoa
Mặc dù hạ huyết áp thì thường thấy được trong sốc, nhưng không có một ngưỡng huyết áp riêng nào để xác định được sốc. Sốc có thể là do giảm lưu lượng máu.
Viêm cầu thận cấp: nguyên lý nội khoa
Hầu hết các thể của viêm cầu thận cấp đều được điều chỉnh bởi cơ chế miễn dịch dịch thể. Đặc điểm lâm sàng tùy thuộc vào tổn thương.
Bất thường hormon tuyến giáp không do tuyến giáp
Bất kỳ bệnh nặng cấp tính nào cũng có thể gây ra những bất thường nồng độ hormone tuyến giáp hoặc TSH trong máu.
Nhuyễn xương: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Trong nhuyễn xương tiến triển, có thể bị giảm calci máu do huy động canxi từ xương chưa khoáng hóa đầy đủ.
Nhiễm toan và nhiễm kiềm hô hấp: nguyên lý nội khoa
Mục tiêu là cải thiện tình trạng thông khí bằng cách thông thoáng phổi và giảm tình trạng co thắt phế quản. Đặt nội khí quản hoặc thở chế độ NPPV được chỉ định trong trường hợp cấp nặng.
Khối u gan: nguyên lý nội khoa
Phẫu thuật cắt bỏ hoặc ghép gan là quan điểm điều trị nhưng hiếm khi thành công. Điều trị khối u bằng sóng cao tần có thể gây hồi quy các khối u nhỏ.
Mãn kinh: rối loạn hệ sinh sản nữ giới
Các triệu chứng mãn kinh thường gặp nhất là vận mạch không ổn định, thay đổi tâm trạng, mất ngủ, và teo biểu mô niệu sinh dục và da.
Bệnh porphyrin: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Các biểu hiện chính bệnh porphyrin thuộc gan là các triệu chứng thuộc thần kinh, đau bụng do thần kinh, bệnh thần kinh, rối loạn tâm thần.
Phù phổi độ cao
Phù phổi không do nguyên nhân tim mạch biểu hiện là co mạch phổi không đều dẫn đến tăng tái tưới máu quá mực ở một vài nơi. Giảm giải phóng nitric oxide do giảm oxy huyết.
Nuốt nghẹn: nguyên lý nội khoa
Xem xét điều trị thử thuốc chống trào ngược, nếu không đáp ứng, theo dõi pH thực quản lưu động 24 giờ, nếu âm tính, đo áp lực thực quản có thể biết được rối loạn vận động.
Khám tâm thần
Ký ức xa hơn được đánh giá bằng khả năng cung cấp bệnh sử hay hoạt động sống cá nhân của bệnh nhân theo trình tự thời gian.
Suy thận cấp: nguyên lý nội khoa
Trong số bệnh nhân nhập viện, đặc biệt ở khoa ngoại hoặc hồi sức tích cực, hoại tử ống thận cấp là chẩn đoán hay gặp nhất.
Hạ canxi máu: nguyên lý chẩn đoán điều trị
Giảm calci máu thoáng qua thường xảy ra ở những bệnh nhân nặng bị bỏng, nhiễm trùng huyết và suy thận cấp, sau truyền máu do có muối citrate chống đông máu.
