Ong đốt

Ngày: 2014-10-4

By member of dieutri.vn

Chỉ có ong cái là có ngòi. Ong nhà và ong bầu có ngòi dài 2 - 3 mm có gai, khi đốt để lại ngòi trong da. Đốt xong ong sẽ chết. Ong vò vẽ và ong bắp cày có ngòi ngắn nhẵn không có gai

Đại cương

Ong đốt thường là nhẹ gây ra phản ứng đau tại chỗ là chính. Tuy nhiên đôi khi ong đốt có thể gây tử vong do sốc phản vệ (chỉ cần 1 con) hoặc do nhiễm độc nặng (trên 10 con). Nạn nhân có thể chết ngay tại chỗ (thường là trẻ em) hoặc bị viêm ống thận cấp do tiêu cơ vân trong những ngày sau:

Ong có hai loại chính

Họ ong vò vẽ (Vespidae) bao gồm:

Ong vò vẽ thường (Vespula vulgaris) thân dài, bụng thon, mình vàng có vạch đẹn, thường làm tổ ở trên cây, dưới mái nhà.

Ong bắp cày (Vespa crabro) to hơn, mình đen chấm vàng, thường làm tổ ỏ bụi cây, sát mặt đất trong đống cành mục.

Ong vàng mình thon, nhỏ thân dài, vàng toàn thân, làm tổ ở trên cây hoặc dưới mái nhà tranh.

Họ ong mật (Apidae) gồm:

Ong nhà, nuôi lấy mật (Apis mellitĩca)

Ong bầu, to tròn, có lông nhưng bay chậm và phát ra tiếng động ầm ĩ.

Ngòi ong

Chỉ có ong cái là có ngòi. Ong nhà và ong bầu có ngòi dài 2 - 3 mm có gai, khi đốt để lại ngòi trong da. Đốt xong ong sẽ chết. Ong vò vẽ và ong bắp cày có ngòi ngắn nhẵn không có gai, đốt xong, rút ra dễ. Do đó chúng có thể đốt đi đốt lại nhiều lần.

Nọc ong

Nọc ong chứa nhiều chất độc và nhiều men, dễ gây dị ứng. Chủ yếu có các chất:

Các amin sinh vật gây viêm: histamin, noradrenalin, dopamin, serotonin, acetylcholin.

Các peptid: apamin là chất độc thần kinh, mellitin là chất độc gây tan máu, MCD peptid thấy ỏ ong nhà, kinin và kháng nguyên 5 ở ong vò vẽ.

Các enzym: hyaluronidase, phospholipase A và B, phosphatase acid, các protease, esterase, glucidase.

Ong bầu và ong bắp cày có lượng nọc gấp hai hay ba lần ong nhà và ong vò vẽ.

Nọc ong mật có khả năng gây dị ứng do có phospholipase A, mellitine và hyaluronidase.

Nọc ong vò vẽ có các dị nguyên hyaluronidase và phospholipase A và B.

Nọc ong thuộc họ vò vẽ có dị ứng chéo với nhau. Nhưng không có khả năng dị ứng chéo giữa nọc ong vò vẽ và nọc ong mật.

Triệu chứng lâm sàng

Phản ứng không dị ứng

Phản ứng viêm tai chỗ: đỏ da, phù nề, đau, ngứa, đường kính một vài cm quanh chỗ đốt, mất đi sau 4 - 12 giờ.

Tuy nhiên, nếu ong đốt ở vùng hầu họng có thể gây viêm phù nề lớn và làm ngạt thở. Nọc ong châm thẳng vào mạch máu cũng nguy hiểm.

Phản ứng độc

Xẩy ra nếu số lượng ong đốt quá nhiều, có thể gây:

Nôn mửa.

Sốc, tụt huyết áp, đông máu lòng mạch.

Hôn mê, co giật.

Tiêu cơ vân dẫn đến viêm ống thận cấp.

Phản ứng dị ứng

Thuộc type I trong phân loại Gell và Coombs.

Có 4 mức độ:

Mức độ 1: phản ứng tại chỗ, mới đầu ở chỗ đốt, sau đó lan dần một đoạn chi: phù, đau, ngứa đỏ.

Mức độ 2: phản ứng từng vùng lan tối toàn chi.

Mức độ 3: phản ứng hệ thống xếp rheo mức độ nặng.

Da niêm mạc.

Hô hấp.

Tiêu hoá.

Tuần hoàn: sốc.

Mức độ 4: sốc phản vệ, xuất hiện nhanh, vài phút sau ong đốt, có thể gây tử vong.

Phản ứng chậm

Xuất hiện nhiều ngày sau khi bị một con ong đốt (8 - 15 ngày) làm cho nạn nhân không nhố tới nguyên nhân.

Kiểu typ II và IV của Gell và Coombs.

Phản ứng kiểu bệnh huyết thanh kèm theo sốt, mày đay, đau khớp.

Phản ứng thần kinh kiểu Guillain Barré, hội chứng ngoại tháp, hội chứng màng não, bệnh não cấp.

Biểu hiện thận: thận  nhiễm mỡ, viêm cầu thận.

Xử trí

Tại chỗ

Lấy móng tay cậy ngòi ở vết đốt nếu là ong mật.

Khử trùng vết đốt: đắp nước Javel hoặc nước dấm pha loãng, cồn 70°.

Tiêm phòng uốn ván nếu vùng ong đốt nhiễm bẩn (SAT 2000 đv tiêm dưới da).

Có thể dí gần vết đốt một đầu hương đang cháy để huỷ nọc.

Tháo các nhẫn, vòng đeo tay để tránh chèn ép mạch khi có phù nề.

Prednisolon và kháng histamin uống trong vài ngày.

Xử trí các phản ứng độc

Truyền dịch, Haesteril sao cho nưóc tiểu trên 100ml/h ở người lớn (1 - 2 ml/kg/phút).

Solumedrol hay Depersolon.

Chống co giật là biện pháp quan trọng để chông tiêu cơ vân và suy hô hấp cấp.

Vận chuyển đến khoa chống độc hoặc khoa điều trị tích cực.

Xử trí sốc phản vệ

Cần nhớ rằng sốc phản vệ có thể chỉ do một con ong đốt.

Adrenalin là thuốc cơ bản để chống sốc phản vệ. Hoà loãng 1/10 (lml adrenalin 1mg + 9ml nước cất) tiêm tĩnh mạch mỗi lần 0,01mg/kg cân nặng cho đến khi huyết áp trỏ lại bình thường. Trung bình tổng liều adrenalin bằng 6 - 7 mg.

Chống suy hô hấp cấp

Tuỳ theo mức độ, có thể cho nạn nhân: thở oxy mũi, thở mặt nạ oxy bóp bóng Ambu hoặc đặt ống nội khí quản, thông khí nhân tạo.

Truyền hoặc xịt salbutamol.

Chống các phản ứng chậm: chủ yếu bằng corticoid uống.