Sốt phát ban thành dịch do chấy rận (do rickettsia)

2016-03-14 09:19 AM

Những yếu tố làm bệnh dễ lây truyền là sống đông người, chật chội, hạn hán, chiến tranh hoặc bất kỳ hoàn cảnh nào chấy rận nhiều

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Tiền triệu có đau đầu, sau đó sốt, rét run.

Đau đầu nhiều, dùng thuốc không đỡ, mệt và sốt cao dai dẳng.

Ban dát xuất hiện vào ngày thứ 4 tới ngày thứ 7 ở thân mình, nách, sau đó lan khắp cơ thể, trừ ở mặt, gan bàn chân và lòng bàn tay.

Chẩn đoán xác định nhờ tìm kháng thể đặc hiệu bằng phản ứng kết hợp bổ thể, ngưng kết vi thể hoặc miễn dịch huỳnh quang.

Nhận định chung

Sốt phát ban là do Rickettsia prowazekii, một loại ký sinh trong chấy rận, cuối cùng làm chấy rận chết. Những yếu tố làm bệnh dễ lây truyền là sống đông người, chật chội, hạn hán, chiến tranh hoặc bất kỳ hoàn cảnh nào chấy rận nhiều. Khi chấy rận hút máu của người bị nhiễm rickettsia pronazekii thì các sinh vật này sẽ vào trong ruột của chấy rận và phát triển ở đó. Khi chấy rận sang người khác (qua tiếp xúc hoặc quần áo), chúng sẽ hút máu người đó, đồng thời phân của chúng có rickettsia chà xát vào các vết cắn ngứa, làm cho người này bị mắc bệnh. Trong điều kiện khô, phân của chấy rận có thể vào cơ thể người qua đường hô hấp.

Sau khi khỏi bệnh, R.prowazekii có thể sống sót trong tổ chức bạch huyết của người bệnh. Nhiều năm sau, bệnh có thể tái phát (như trong bệnh Brill) mà không hề tiếp xúc với chấy rận.

Ở Mỹ, trong một số ít trường hợp, bệnh nhẹ, không điển hình, mắc sau khi tiếp xúc với sóc bay, ngoại ký sinh trùng hoặc nhiều thập kỷ sau tiếp xúc mầm bệnh (như các nạn nhân ở trại tập trung trong chiến tranh thế giới lần thứ II). Một số trường hợp mắc bệnh là do đi du lịch tới các vùng dịch bệnh (như Trung Phi, Đông Bắc phi, gồm cả Somalia).

Triệu chứng và dấu hiệu

Sau thời gian ủ bệnh từ 10 - 14 ngày, bệnh nhân có tiền triệu mệt mỏi, ho, đau đầu, đau lưng, đau khớp và đau ngực. Tiếp sau đó, người bệnh đột ngột có sốt cao, rét run, mệt là và các triệu chứng giống cúm, rồi tiến triển tới mê sảng và trạng thái sững sờ. Đau đầu nhiều và sốt kéo dài.

Các biểu hiện khác như viêm kết mạc, nghe giảm do tổn thưong dây thần kinh số VIII, mặt ửng đỏ, ran ở đáy phổi và thường có lách to. Đầu tiên xuất hiện ban dát ở nách (ban có thể hợp lại), sau đó mọc ở thân mình rồi chân tay, nhưng hiếm khi có ở mặt, gan bàn chân và lòng bàn tay. Ở những bệnh nhân nặng, ban trở thành xuất huyết, tụt huyết áp, suy thận, trạng thái sững sờ và mê sảng. Trong trường hợp tự khỏi, triệu chứng bắt đầu giảm vào ngày 13 - 16 sau khi khởi phát bệnh bằng giảm sốt nhanh.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Số lượng bạch cầu thay đổi. Hay gặp là protein và bạch cầu trong nước tiểu, 5 - 12 ngày sau khởi phát, tìm thấy kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh bằng phản ứng kết hợp bổ thể, ngưng kết vi thể, miễn dịch huỳnh quang. Trong trường hợp nhiễm rickettsia lần đầu, kháng thể xuất hiện sớm là loại IgM. Khi bệnh tái phát (bệnh Brill), kháng thể xuất hiện sớm chủ yếu là IgG.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp phim ngực có thể có vùng đông đặc phổi.

Chẩn đoán phân biệt

Giai đoạn tiền triệu và giai đoạn sớm của sốt không đủ đặc hiệu để chẩn đoán xác định trong những trường hợp ở ngoài vùng dịch tễ. Ban thường giúp cho chẩn đoán phân biệt, nhưng có tới 10% số bệnh nhân không có ban, hoặc rất khó phát hiện ban ở người da đen. Những bệnh khác có sốt cấp tính cẩn phải phân biệt với bệnh này.

Bệnh Brill (sốt phát ban tái phát) xuất hiện từ từ hơn so với nhiễm R.prowazekii lần đầu. Thời gian sốt và phát ban ngắn hơn. Bệnh thường nhẹ hơn và hiếm khi tử vong.

Biến chứng

Các biến chứng có thể gặp là viêm phổi, huyết khối, viêm mạch với tắc mạch lớn, hoạt tử, suy tuần hoàn, viêm cơ tim, tăng urê máu.

Phòng bệnh

Phòng bệnh bằng cách hạn chế chấy rận bằng thuốc diệt côn trùng, đặc biệt dùng hóa chất hoặc nhiệt để xử lý quần áo và tắm thường xuyên. Tắm giặt sạch sẽ, bắt hết chấy rận giúp cho phòng bệnh.

Dùng vaccin bất hoạt từ R.prowazekii nuôi cấy vào trứng cho nhân viên phòng xét nghiệm, thầy thuốc hoặc những người làm việc có tiếp xúc với kí sinh trùng. Vaccin này hiện tại chưa được dùng ở Mỹ và Canada. Một loại vaccin từ nuôi cấy tế bào đang được sản xuất.

Điều trị

Điều trị gồm tetracyclin (25 mg/kg/ngày, chia làm 4 lần) hoặc chloramphenicol (50 - 100 mg/kg/ngày chia làm 4 lần), trong 4 - 10 ngày.

Tiên lượng

Tiên lượng dựa vào lứa tuổi và tình trạng miễn dịch. Ở trẻ em dưới 10 tuổi, bệnh thường nhẹ. Tỷ lệ tử vong là 10% và ở tuổi 20 và 30, nhưng trước kia tới 60% ở tuổi 60. Vaccin có thể biến bệnh có nguy cơ nặng thành bệnh nhẹ.

Bài viết cùng chuyên mục

Sốt phát ban thành dịch do bọ chét

Ban ở dạng dát sẩn tập trung ở thân mình và mờ đi tương đối nhanh, ít gặp bệnh nhân tử vong và thường chỉ xảy ra ở người già.

Nhiễm virus Poxvirus

Vaccin bệnh đậu bò có khả năng loại trừ một phần bệnh đậu mùa. Vaccin thông thường chỉ được dùng cho người ở phòng xét nghiệm vì người này phải tiếp xúc với virus.

Ỉa chảy ở người du lịch

Tránh dùng thức ăn và nguồn nước để lạnh dễ bị nhiễm bẩn ở những người du lịch tới các nước đang phát triển nơi mà bệnh ỉa chảy nhiễm khuẩn đang là dịch lưu hành.

Test quá mẫn và giải mẫn cảm

Nếu phản ứng ở mức độ nhẹ xẩy ra thì dùng liều thấp hơn và tiếp tục giải mẫn cảm. Nếu phản ứng nặng hơn, cần dùng epinephrin và ngừng thuốc trừ khi việc điều trị là tối cần thiết.

Nhiễm khuẩn do liên cầu ngoài nhóm A

Liên cầu viridans là nhóm không gây tan máu, hoặc gây tan máu kiểu α (tức là gây vùng tan máu màu xanh lá cấy trên đĩa thạch) và là thành phần của vi khuẩn chí bình thường ở miệng.

Sốt phát ban do mò truyền

Sốt phát ban do mò truyền bởi con Orientia tsutsugamushi. Đây là sinh vật ký sinh chủ yếu ở loài gặm nhâm truyền bệnh qua các con mò ở vùng có dịch tễ được trình bày ở trên.

Bệnh do Hantavirus

Chẩn đoán dựa vào phản ứng huyết thanh học bằng nhuộm hóa học mô miên dịch hoặc bằng kỹ thuật khuyếch đại PCR của ADN virus trong tổ chức.

Nhiễm virus herpes typ 6, 7, 8 (HHV)

Nhóm virus này có liên quan tới thải bỏ mảnh ghép và ức chế tủy xương ở người ghép tổ chức, gây viêm phổi và viêm não ở bệnh nhân AIDS.

Sốt Q

Viêm nội tâm mạc ít gặp nhưng lại là thể nặng của nhiễm Coxiella và liên quan với tình trạng tổn thương miễn dịch, việc sống ở vùng thành thị, uống sữa tươi.

Bệnh tả

Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch.

Viêm tủy xương do tụ cầu vàng

Có thể là nhiễm khuẩn cấp tính với cầc triệu chứng, khu trú và tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân. Nhưng cũng có thể tiến triển âm ỉ, chỉ thấy đau mơ hồ.

Sốt do ve

Ở Mỹ, trong 10 năm có 67 trường hợp bị bệnh được phát hiện, phần lớn trong số đó là đi du lịch về từ châu Phi, gồm cả Somalia. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, huyết thanh lọc và kỹ thuật PCR.

Viêm họng nhiễm khuẩn do liên cầu

Liên cầu tan huyết bê ta nhóm A là vi khuẩn gây viêm họng xuất tiết phổ biến nhất. Bệnh lây qua các giọt nước bọt có vi khuẩn.

Virus hợp bào đường hô hấp

Virus này gây bệnh nặng nhất vào lúc mà kháng thể đặc hiệu của người mẹ hằng định mặc dù nồng độ kháng thể cao có thể làm thay đổi hoặc phòng được bệnh.

Bệnh do các loài vi khuẩn Bartonella

Bệnh u mạch lan toả do trực khuẩn, là một trong những bệnh quan trọng do vi khuẩn Bartonella gây ra, Sốt chiến hào là bệnh sốt tái phát do rận truyền, tự khỏi do B. quintana gây ra.

Vãng khuẩn huyết do Salmonella

Đôi khi nhiễm khuẩn do salmonella có thể biểu hiện dưới dạng sốt kéo dài hoặc sốt tái phát có kèm vi khuẩn trong máu và có các ổ nhiễm khuẩn ở xương, khớp.

Bệnh dại

Bệnh dại hầu hết là tử vong, những người sống sót có thể là do nhiễm virus giống dại. Người thầy thuốc đối diện với vấn đề thường gặp nhất trên lâm sàng là xử trí bệnh nhân bị động vật cắn.

Các bệnh do Mycobacteria không điển hình, không phải lao

Các thuốc có tác dụng trong điều trị là rifabutin, azithromycin, clarithromycin, và ethambutol, Amikacin và ciprofloxacin có tác dụng trên thí nghiệm nhưng số liệu về lâm sàng còn chưa đủ để kết luận.

Những hội chứng do virus epstein barr

Các virus herpes có khả năng làm biến đổi tế bào, khi nuôi cấy trong tổ chức và đi kèm với các bệnh ác tính như virus Epstein Barr gây u lympho Burkitt.

Bệnh đậu do rickettsia

Bạch cầu giảm, nồng độ kháng thể tăng bằng phản ứng kết hợp bổ thể hoặc dùng phản ứng huỳnh quang gián tiếp sử dụng globulin kháng rickettsia liên hợp.

Bệnh than

Khi bệnh biểu hiện trên da, thường thấy các ban đỏ tại vùng bị thương và nhanh chóng chuyển sang các mụn phỏng màu hồng rồi màu đen ở giữa. Vùng xung quanh phù nề và nổi mụn phỏng.

Nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao

Vì khi bắt đầu điều trị thường chưa có kết quả kháng sinh đồ, nên thường phải dựa vào độ mạnh của thuốc hoặc số liệu về tỷ lệ kháng thuốc trong cộng đồng hoặc trong quần thể bệnh nhân.

Viêm não đám rối màng mạch tăng lympho bào

Triệu chứng biểu hiện bằng 2 giai đoạn. Giai đoạn tiền triệu biểu hiện bằng sốt, rét run, đau cơ, ho và nôn. Giai đoạn màng não biểu hiện đau đầu, buồn nôn, nôn và ngủ lịm.

Nhiễm khuẩn da do liên cầu

Đối với những bệnh nhân có dấu hiệu toàn thân nặng hoặc bệnh phân bị viêm tổ chức tế bào da ở mặt, cần dùng kháng sinh đường toàn thân.

Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch

Những bệnh nhân bị cắt lách hoặc suy giảm chức năng lách không thể loại trừ được vi khuẩn trong dòng máu, dẫn đến tăng nguy cơ vãng khuẩn huyết bởi các vi khuẩn có vỏ.