- Trang chủ
- Sách y học
- Bài giảng giải phẫu bệnh
- Giải phẫu bệnh thiếu nước và sung huyết
Giải phẫu bệnh thiếu nước và sung huyết
Thiếu hụt nước sẽ gây tăng natrium máu làm tăng trương lực của dịch ngoài tế bào kèm thiếu nước trong tế bào. Ngược lại, thiếu hụt natrium hoặc hạ natrium sẽ cản trở việc chế tiết hormon chống lợi niệu làm nước thoát ra ngoài kèm nước nhập vào trong tế bào.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Thiếu nước
Là tình trạng giảm thiểu bệnh lý các chất dịch của cơ thể, do những rối loạn cân bằng điện tích, ảnh hưởng đến các dịch thể của mạch máu và của mô đệm kẽ (vùng gian bào). Thiếu hụt nước sẽ gây tăng natrium máu làm tăng trương lực của dịch ngoài tế bào kèm thiếu nước trong tế bào. Ngược lại, thiếu hụt natrium hoặc hạ natrium sẽ cản trở việc chế tiết hormon chống lợi niệu làm nước thoát ra ngoài kèm nước nhập vào trong tế bào. Hiếm khi gặp tình trạng thiếu hụt các ion khác, như kalium (gây giảm kalium máu).
Thiếu nước biểu hiện dưới dạng khô các niêm mạc và thanh mạc, da nhăn nheo có nhiều nếp gấp. Các tế bào thượng mô bị teo đét, thoái hóa, tế bào tuyến không còn hoạt động chức năng, mô liên kết đông đặc. Thiếu nước cũng làm máu đặc hơn và có nồng độ cao.
Thiếu nước có thể do nhiều nguyên nhân như :
(1) không đủ lượng nước đưa vào cơ thể (do nhịn uống tự nguyện ở các tù nhân đấu tranh phản kháng) (do khát nước bắt buộc ở người lạc đường trên sa mạc cát) (do bệnh tật ở bệnh nhân tâm thần không chịu uống nước).
(2) nôn ói, tiêu chảy, ra mồ hôi quá mức ở bệnh nhân tiểu đường nhiễm acid nặng, dùng thuốc lợi niệu quá mức.
(3) rối loạn chuyển hóa các chất điện giải kèm giảm natrium máu, thường gặp trong suy thận vỏ.
Sung huyết
Là tình trạng ứ máu quá mức trong các mạch máu, đây là tổn thương khả hồi. Có 2 dạng sung huyết:
Sung huyết động
Là hiện tượng ứ máu trong các động mạch lớn, nhỏ vàvi mạch, đôi khi lan đến cả hệ tĩnh mạch (nếu có những nối động-tĩnh mạch), vùng mô sung huyết động có màu đỏ rực, sưng to (do phù), kèm nhiệt độ tăng cao. Các mạch máugiãn rộng, tế bào nội mạc phồng to, đôi khi kèm chảy máu do thoát hồng cầu và phù quanh mạch. Có thể thấy sung huyết động ở tử cung, tuyến vú (trước kỳ kinh nguyệt)hoặcởdadướidạngnhữngchấmmáu(trongbệnh nhiễm khuẩn). Sung huyết động không gây ảnh hưởng vĩnh viễn đến cấu trúc, nghĩa là tổn thương mang tính khả hồi, nhưng việc tưới máu quá mức có thể làm tăng chuyển hóa tế bào, gây tăng sản và ảnh hưởng đến mô như hiện tượng mất canxi ở xương.
Sung huyết động là do những cơ chế thần kinh giao cảm và đối giao cảm, có tác động điều hòa lưu thông lượng máu và trương lực động mạch. Những cơ chế đó chịu tác động (ức chế hoặc kích thích) của nhiều yếu tố khác nhau như: tác nhân vật lý (nóng, lạnh...), hóa học, độc tố vi khuẩn, chất nội tiết, dược phẩm, chất trung gian hóa học (do viêm), tác nhân tâm lý (sung huyết gây đỏ mặt ở thiếu nữ...), động tác phẫu thuật (như cắt dây thần kinh giao cảm thắt lưng có thể gây giãn mạch ở phía dưới nơi cắt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hóa sẹo vết thương).
Sung huyết tĩnh
Là hiện tượng ứ máu trong các tĩnh mạch lớn, nhỏ và vi mạch. Vùng tổn thương có màu tím sẫm, nhiệt độ giảm, diện cắt có chảy dịch đen sẫm, sánh đặc. Hiện tượng giãn tĩnh mạch thường dễ nhận thấy qua kính hiển vi (do bị ảnh hưởng qua sinh thiết): có phù nề và chảy máu ở mô kẽ. Sung huyết tĩnh dẫn đến tăng áp lực thủy tĩnh trong lòng mạch kèm vô oxy, ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng mô, tế bào. Thí dụ: tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa (trong bệnh xơ gan) dễ gây giãn tĩnh mạch ở thực quản, hệ tĩnh mạch nhánh bên của thành bụng. Tăng áp lực tĩnh mạch do ứ đọng máu kèm vô oxy sẽ tác động đến mô tế bào, gây teo đét, thoái hóa hoại tử và hóa sợi. Sung huyết tĩnh cũng tạo điều kiện thuận lợi cho huyết khối tĩnh mạch.
Có nhiều nguyên nhân gây sung huyết tĩnh: (1) chèn ép tĩnh mạch kéo dài (do khối u hoặc các yếu tố bệnh khác...) (2) huyết khối làm lấp tắc lòng tĩnh mạch (3) dị tật vách mạch do bẩm sinh hoặc mắc phải (4) suy giảm trương lực của vách mạch và các van tĩnh mạch (5) suy tim...
Gan tim: Là một biểu hiện điển hình của sung huyết tĩnh. Dòng huyết lưu tĩnh mạch bị cản trở do suy tim phải hoặc suy tim toàn diện, đôi khi do viêm ngoại tâm mạc co thắt. Tình trạng ứ máu xảy ra ở hệ tĩnh mạch trên gan, gây rối loạn chuyển hóa ở mô gan theo hướng từ trung tâm ra ngoại vi. Tổn thương hiện diện thoạt tiên ở trung tâm tiểu thùy, bao gồm giãn rộng các xoang, chảy máu, thoái hóa mỡ rồi hoại tử tế bào gan. Cuối cùng, chỉ riêng vùng mô gan quanh khoảng cửa còn tương đối lành, làm cho khoảng cửa mang dáng vẻ của vùng trung tâm tiểu thùy, đó là hình ảnh "gan đảo ngược".
Diện cắt gan tim có những vạch đỏ sẫm (sung huyết) xen kẽ với những vạch vàng óng (thoái mỡ mỡ) tạo hình ảnh "gan hạt cau". Do sung huyết tĩnh nên gan to và đau, tình trạng bệnh này tăng hoặc giảm tùy thuộc giai đoạn suy tim, đó là dạng "gan đàn phong cầm". Nếu suy tim kéo dài, vùng trung tâm của tiểu thùy gan (do thiếu oxy mãn) sẽ hóa xơ, đó là "xơ gan tim" (cần phân biệt với bệnh "xơ gan" thực sự, trong thể bệnh này, có viêm kèm nhiều tiểu thùy gan tân tạo). Trong suy tim, tình trạng sung huyết tĩnh không chỉ thể hiện ở gan tim mà còn biểu hiện dưới dạng tràn dịch (ở khoang tim, phổi) (ở da, chi dưới, hoặc vùng thắt lưng mông ở bệnh nhân nằm liệt giường).
Phổi tim: Có màu đỏ sẫm, mật độ chắc, gần giống mô gan. Nguyên nhân do suy tim trái, bệnh van hai lá (hẹp, hở), hoặc suy tim toàn bộ. Ở giai đoạn cấp (phù phổi cấp), các khoang hốc phổi chứa đầy dịch thanh huyết, màu hồng nhạt (xuất nguồn từ các vi mạch giãn rộng quá mức), với biểu hiện lâm sàng nhiều đờm rãi có bọt hồng. Ở giai đoạn mãn, các vi mạch vách hốc phổi giãn rộng gây hồng cầu thoát mạch. Lòng hốc phổi chứa đầy dịch thanh tơ huyết kèm nhiều đại thực bào ăn hemosiderin (hồng cầu thoái hóa) gọi là "tế bào tim". Dần dần, vách hốc phổi hóa xơ, teo đét, dẫn đến giãn hốc phổi. Lớp cơ áo giữa của vách động mạch nhỏ và vi mạch có thể phì đại gây tăng huyết áp động mạch phổi.
Bài viết cùng chuyên mục
Giải phẫu bệnh của gan
Các enzym SGOT (serum glutamic oxaloacetic transferase) và SGPT (serum glutamic pyruvic transferase) do gan tổng hợp
Giải phẫu bệnh của tuyến nước bọt
Nước bọt có nhiều nước, mucin, glycoprotein giúp làm trơn thức ăn, làm dễ nuốt. Nước bọt có tính sát khuẩn và là một chất đệm tốt. Trong nước bọt cũng có enzym amylase (ptyalin) có khả năng biến đổi tinh bột thành maltose và phân giải glycogen, và nhiều loại enzym khác.
Giải phẫu bệnh bệnh hốc miệng
Tác nhân gây bệnh được truyền từ người này sang người khác, thường do hôn nhau. Hơn ba phần tư dân số bị nhiễm, trong khoảng nữa cuộc đời.
Giải phẫu bệnh tinh hoàn
Tinh hoàn có các nang lao hoặc có phản ứng tế bào với thấm nhập bạch cầu đa nhân, tương bào, tế bào thượng mô tróc, tế bào đơn nhân, đại bào nhiều nhân và vi trùng lao.
Giải phẫu bệnh bệnh buồng trứng
Bệnh lý viêm rất hiếm gặp. U có thể sinh ra từ những mô phức tạp của buồng trứng trưởng thành hay của vết tích mô phôi của buồng trứng.
Giải phẫu bệnh bệnh hô hấp
Carcinôm tế bào nhỏ vào thời điểm được chẩn đoán, thường đã di căn. Ngoài ra, còn có một số loại ung thư khác hiếm gặp như u trung mạc.
Giải phẫu bệnh tổn thương chảy máu
Chảy máu là tình trạng máu ra khỏi hệ tuần hoàn, có thể (a): khu trú tại một điểm trong cơ thể (b) lan tỏa (thường là biểu hiện của một bệnh hệ thống).
Giải phẫu bệnh rối loạn chức năng tử cung
Rối loạn chức năng phổ biến nhất là dứt estrogen trong các chu kỳ kinh nguyệt không phóng noãn
Giải phẫu bệnh Carcinom vú
Phụ nữ có tiền căn ung thư vú, ung thư buồng trứng hoặc ung thư nội mạc tử cung (ở phụ nữ có tiền căn ung thư cổ tử cung thì xuất độ ung thư vú ít hơn).
Giải phẫu bệnh các yếu tố và giai đoạn của viêm
Viêm (từ nguyên la tinh inflammare có nghĩa là lửa cháy và từ nguyên Hán ( ) có nghĩa là nóng, nhiệt) là một hiện tượng đã được nói đến từ thời cổ đại (thiên niên kỷ 4 trước công nguyên - thế kỷ 5 sau công nguyên).
Giải phẫu bệnh phù
Phù là sự ứ đọng bất thường các dịch đó trong ở mô đệm kẽ, còn ứ đọng dịch ở trong tế bào là hiện tượng thũng đồng thẩm thấu. Hình thái đại thể và vi thể của phù thường khác biệt tùy thuộc vị trí và cấu trúc của tạng bị thương tổn.
Sarcom cơ trơn tử cung
Hầu hết sarcom cơ trơn nằm trong lớp cơ, dưới dạng một khối đơn độc, đường kính trung bình là 9cm, bờ không rõ rệt, mềm hay chắc.
Giải phẫu bệnh u và giả u ruột
Thay vì gây viêm ruột thừa thì lại làm cho các chất nhầy tiết ra bị ứ đọng lại trong lòng ruột tạo nên bọc nhầy.
Giải phẫu bệnh u ác tính cổ tử cung
Tăng sản thượng mô với tế bào tương đối non, mất cực tính. Các tế bào dạng đáy hay dạng cận đáy chiếm từ 1/3 đến hầu hết bề dày lớp thượng mô.
Giải phẫu bệnh nguyên nhân gây phù viêm
Khoảng 65% tổng số tế bào trong máu lưu thông là bạch cầu, 5 - 10% là bạch cầu nhân đơn, tỷ lệ còn lại là những loại tế bào khác. Bạch cầu chỉ di chuyển trong máu trong khoảng thời gian 6 giờ rồi bị hủy hoại ở lách.
Giải phẫu bệnh u lành tử cung
Pôlíp teo đét: có lớp tuyến teo đét, tế bào tuyến vuông hay trụ thấp. Các tuyến dãn nở, lớn hơn bình thường
Giải phẫu bệnh tổn thương giả u cổ tử cung
Tổn thương thường gặp ở phụ nữ dùng viên thuốc ngừa thai, hay ở phụ nữ có thai hay sau sanh.
Giải phẫu bệnh u thượng mô thông thường buồng trứng
Thượng mô nẩy chồi là hậu quả sự tăng sản thượng mô nhiều so với tăng sản mô đệm, thượng mô xếp dạng nhú, dạng chồi.
Giải phẫu bệnh viêm xương
Bệnh viêm mủ xương-tủy có thể chia làm 3 giai đoạn diễn tiến liên tục và chuyển đổi từ từ không có ranh giới rõ rệt: cấp, bán cấp và mạn tính.
Giải phẫu bệnh u mô đệm nội mạc tử cung
Đôi khi u hoá bọc, nhưng ít hoại tử xuất huyết. U thường nằm trong lớp cơ hay dưới thanh mạc nhưng không xâm nhập.
Giải phẫu bệnh ung thư di căn đến não
Ung thư di căn não chiếm khoảng một phần tư đến một nửa khối u nội sọ, ở những bệnh nhân nhập viện. Các vị trí hay cho di căn nhất là phổi, vú, da (melanôm), thận, và đường tiêu hóa, chiếm khoảng 80% của tất cả các di căn.
Giải phẫu bệnh viêm cổ tử cung
Viêm do vi khuẩn quan trọng vì có thể đi kèm với nhiễm khuẩn lên nội mạc tử cung, vòi trứng và phúc mạc chậu, hoặc lây qua nhau và thai hay bé sơ sinh.
Giải phẫu bệnh nội mạc tử cung và chuyển sản
Tăng sản dạng nang: Đây là dạng phổ biến nhất. Các tuyến dãn nở, kích thước thay đổi, được lót bởi một lớp thượng mô trụ cao, rải rác có hình ảnh phân bào. Thượng mô có thể xếp thành nhiều tầng.
Giải phẫu bệnh ung thư dạ dày
Khoảng 90-95% các ung thư của dạ dày là carcinom. Khoảng 3% là limphôm và 2% là sarcom cơ trơn. Ngoài ra, còn có u tế bào ưa bạc (là u nội tiết của ống tiêu hoá). Bốn loại này chiếm 95-99% các ung thư dạ dày.
Mối quan hệ giữa giải phẫu bệnh và lâm sàng
Các lĩnh vực như sinh học phân tử, hóa mô miễn dịch, và di truyền học đã được áp dụng trong nghiên cứu các bệnh ung thư và trong thực tiển điều trị căn bệnh này.
