Bệnh học đau bụng ở trẻ em

2012-10-24 10:23 PM

Có thể phát hiện dấu hiệu viêm hạch mạc treo, búi lồng, hay hình ảnh ruột thừa viêm hay dịch tự do hay khu trú trong ổ bụng hay hình ảnh giun ở đường mật, đường tụy..

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Đau bụng là một bệnh cảnh thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên nhân hàng đầu mà trẻ được đem đến các cơ sở y tế ( bệnh viện, trạm xá, hay phòng mạch  của Bác sĩ). Ngoài những nguyên nhân đau bụng do một số bệnh lý tại ruột thì không được quên rằng nguyên nhân của nó có thể là do bệnh lý ngoài ống tiêu hóa, và mức độ của bệnh cũng như biểu hiệu lâm sàng rất đa dạng.

Cần phân biệt đây là đau bụng cấp, đau bụng tái diễn, đau bụng nội khoa hay đau bụng ngoại khoa

Tình hình chung

Tuổi, giới,tiền sử bệnh tật ( bệnh nội hay điều trị ngoại)

Hỏi bệnh

Cơn đau

Ngày, giờ đau, hoàn cảnh xuất hiện cơn đau, cách khởi phát: đột ngột hay từ từ.

Diễn tiến cơn đau: Liên tục hay từng cơn. Khoảng cách của các cơn đau.

Cường độ đau (Thường được cường điệu do bố mẹ).

Vị trí và hướng lan.

Những triệu chứng tiêu hóa khác

Nôn, buồn nôn.

Ỉa chảy, táo bón hay bí trung- đại tiện.

Dấu hiệu ngoài ống tiêu hóa

Dấu hiệu ở Tai mũi họng (TMH): Chảy mũi nước, nuốt khó, đau tai..

Đường hô hấp: ho,khạc đàm.

Tiết niệu: đái khó, đái buốt.

Khám bụng

Xác định vị trí đau, phản ứng thành bụng. Ở trẻ nhỏ phản ứng thành bụng rất giới hạn bởi vì cơ thành bụng yếu.

Thăm trực tràng được thực hiện sau cùng để khám phá khối u, máu, hay làm tăng cơn đau.

Khám lâm sàng khác

Tình trạng tổng quát: Hội chứng nhiễm trùng kèm hay không run lạnh, nổi ban, da xanh tái, sốt ( Thân nhiệt < 3708).

Tình trạng choáng: Hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, đổ mồ hôi, tay chân lạnh.

Tình trạng mất nước ( Khát nước, nếp véo da mất chậm, mắt trủng, trẻ kích thích  hay li bì).

Khám TMH, phổi, hạch, bộ phận sinh dục để phát hiện một vài dấu chứng bệnh lý.

Xác định về một vài nét đặc biệt trong đời sống của trẻ: Như quan hệ xã hội, rối loạn về giao tiếp, hay trẻ bị đi học quá sớm.

Cận lâm sàng

Chụp phim bụng (nằm và đứng): Tìm các dấu hiệu  liềm hơi dưới cơ hoành, mức hơi nước ở ruột hay dịch tự do trong ổ bụng..

CTM, điện giải đồ, C reactive protêin.

Siêu âm bụng: Có thể phát hiện dấu hiệu viêm hạch mạc treo, búi lồng, hay hình ảnh ruột thừa viêm hay dịch tự do hay khu trú trong ổ bụng hay hình ảnh giun ở đường mật, đường tụy..

Nếu cần thiết có thể thử nước tiểu ( tế bào, sinh hóa hay cặn lắng), nội soi ổ bụng, chụp đường tiểu có chuẩn bị  (UIV).

Phân loại

Đau bụng cấp ở trẻ em

Đau bụng cấp là cơn đau bụng xảy ra một cách đột ngột, đau từng cơn, kèm theo những triệu chứng như đề kháng hay phản ứng thành bụng. Tình trạng thường gặp ở trẻ em làm bố mẹ rất lo lắng. Bệnh gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, có thể lúc trẻ được  2-3 tháng tuổi hay ở trẻ 13-14 tuổi. Nguyên nhân rất đa dạng và đôi lúc chẩn  đoán gặp nhiều khó khăn.

Cấp cứu ngoại khoa:

Viêm ruột thừa.

Lồng ruột.

Thoát vị nghẽn.

Viêm phúc mạc tiên phát.

Xoắn ruột do xoay ruột dở dang, thủng tạng rỗng, chấn thương vùng bụng

Không có chỉ định ngoại khoa cấp cứu:

Khi chẩn đoán ban đầu không phải là một cấp cứu ngoại khoa, thì cần làm những thăm dò khác đặc biệt là siêu âm chẩn đoán, transaminase, cấy máu, ngoáy họng tìm vi khuẩn. Hướng chẩn đoán vẫn phụ thuộc vào dấu hiệu lâm sàng.

Viêm phổi, viêm mủ màng tim và viêm cơ tim.

Nhiễm trùng đường tiểu, sỏi tiết niệu, thận ứ nước.

Viêm dạ dày ruột cấp,viêm gan siêu vi, sỏi mật, viêm túi mật, viêm tụy, nhiễm giun đũa, giun móc, viêm loét dạ dày.

Xuất huyết dạng thấp ( Purpura rheumatoid)

Hội chứng tăng urê máu huyết tán

Những yếu tố có giá trị để chẩn đoán

Sẹo ở bụng: Hãy nghỉ đến biến chứng ngoại khoa sau mỗ.

Nếu trẻ có những ngày sống ở vùng dịch tễ, cần nghỉ đến một số bệnh như sốt rét, amip, nhiễm ký sinh trùng đường ruột.

Trẻ bú mẹ cần nghỉ đến lồng ruột, xoắn ruột, nghẽn thoát vị.

Ở trẻ gái, nếu cơn đau khu trú ở vùng hạ vị, thì cần nghỉ đến xoắn buồng trứng, viêm phần phụ, hay ở trẻ thiếu niên cần nghỉ đến tắc kinh thứ phát, biến chứng của có thai , trong những trường hợp này cần làm siêu âm bụng.

Đứng trước một trường hợp đau bụng cấp, có 2 điểm cần để ý:

Xác định tình trạng nặng của bệnh nhân.

Nhớ rằng một trường hợp đau bụng cấp tính ngoại khoa vẫn phải nghỉ một tình huống nội khoa khi cần thiết.

Nếu không tìm ra vấn đề gì, thì viêm hạch mạc treo đặc biệt do Yersinia hay bệnh cảnh Virus loại tăng bạch cầu đơn nhân nhất là ở bệnh nhân có triệu chứng nhiễm đường hô hấp trên với nhiều hạch lớn và lách lớn cần phải chú ý. Đứng trước những trường hợp này, cần theo dõi sát về phương diện lâm sàng vài ngày sau đó  để có thái độ xử trí kịp thời ( nhất là những bệnh cảnh ngoại khoa cấp tính).

Hỏi bệnh sử

Xác định cách khởi phát, thời gian  vị trí, số lần và  cường độ của cơn đau. Những triệu chứng của đường tiêu hóa như ỉa chảy, nôn mửa, ỉa ra máu, táo bón Những triệu chứng của đường tiểu như tiểu ít, tiểu đau.

Sốt, viêm khớp,giảm cân.

Khám lâm sàng

Đánh giá tình trạng mất nước và tuần hoàn.

Ghi nhận những dấu hiệu của kích thích  phúc mạc như đau khi xoay cẳng chân ra ngoài, khi nhảy hay khi đi đứng, dấu hiệu của cơ  đáy chậu bị kích thích.

Dấu hiệu của tắc ruột như nôn mửa, tăng nhu động ruột, bụng căng chướng.

Dấu hiệu của viêm phúc mạc như co cứng thành bụng, giảm nhu động ruột, chướng bụng, hay choáng, có điểm đau cố định.

Nếu đau ở vùng thượng vị hãy nghỉ đến viêm loét dạ dày, thoát vị qua lỗ thực quản,trào ngược dạ dày thực quản, viêm thực quản, viêm tụy.

Đau ở ¼ trên phải gợi ý viêm gan, abces gan hay u gan, HC Hugh-Curtis, viêm túi mật, hay viêm đường mật.

Nếu đau toàn bụng hay quanh ruột, hay vùng bên trái nhưng mức độ nhẹ cần nghỉ đến táo bón, viêm hạch mạc treo, ngộ độc thức ăn, viêm dạ dày ruột cấp, hay đau do tâm căn

Đánh giá mức độ đau

Nhẹ: Mặc dù đau nhưng trẻ vẫn hoạt động bình thường hay kèm theo những bệnh tự giới hạn

Trung bình: Trẻ đau kèm theo triệu chứng nhiễm trùng.

Nặng: Bệnh nhi có triệu chứng của viêm phúc mạc hay nghẽn ruột.

Những triệu chứng gợi ý bệnh hệ thống hay nhiễm trùng

Vàng da (Viêm gan); Sang thương quanh hậu môn, sút cân, máu trong phân ( Viêm ruột non: bệnh Cronh); Ỉa ra máu,sau dùng kháng sinh (Viêm đại tràng màng giả), ỉa chảy phân có máu, sốt, không nôn mửa ( Viêm ruột nhiễm khuẩn); xuất huyết dưới da dạng chấm, viêm khớp, đái ra máu (Schonlein- Henoch); Ỉa ra máu, đái máu, thiếu máu, suy thận (HC tăng urê máu huyết tán); sốt kéo dài, viêm kết mạc , nổi ban, sang thương ở niêm mạc (Bệnh Kawasaki); sốt, sút cân, gan lách lớn, hạch to ( Bệnh ác tính); thiếu máu ( bệnh hồng cầu hình liềm); ho, giảm âm phế bào, nghe ran ở phổi (Viêm đáy phổi phải); đau họng và xuất tiết, viêm hạch (Viêm họng do Streptococcus pyogenes); bụng chướng, gãy chi (chấn thương).

Gợi ý viêm loét dạ dày

Khi bệnh nhi đau bụng tái diễn kẽm theo nôn mửa, nôn ra máu, ỉa ra máu. Ở trẻ lớn  thường đau ở vùng thượng vị.

Chụp X quang bụng

Để tìm sỏi trong ruột thừa, bóng hơi ở thành ruột trong bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh, liềm hơi dưới cơ hoành (thủng tạng rỗng), mức hơi nước (tắc ruột), u ổ bụng hay những nốt calci hoá trong bụng, sỏi đường tiết niệu….

Siêu âm

Là kỹ thuật có hiệu quả cao có thể chẩn đoán nhiều nguyên nhân của đau bụng cấp như viêm ruột thừa, lồng ruột, bệnh lý túi mật, hay đường mật, viêm tuỵ, viêm gan,  khối u trong ổ bụng hay còn chẩn đoán một số bệnh lý ở  trong hố chậu.

Gợi ý viêm tuỵ khi đau bụng có hướng lan ra sau lưng có kèm theo nôn

Báng, bụng chướng và dấu phản ứng thành bụng có thể gặp. Amylase máu tăng là dấu hiệu gợi ý, Siêu âm có thể phát hiện được viêm và giả nang. Nguyên nhân của viêm tuỵ có thể do chấn thương, rối loạn chuyển hoá hay nhiễm trùng hoặc hội chứng tăng ure máu huyết tán hay ngộ độ thuốc hoặc những dị tật bẩm sinh.

Ruột thừa viêm

Với các dấu hiệu sốt, nôn mửa,  đau vùng hố chậu phải nhất là tại điểm Mac Burney.

Lồng ruột

Khi cơn đau bụng bộc phát đột ngột, kèm theo nôn mửa, bụng chướng, ỉa ra máu, và sờ thấy khối u. Với siêu âm búi lồng được phát hiện khá dễ dàng.

Chấn thương

Gây nên vở gan lách và bàng quang hay chấn thương gây nên viêm tuỵ

Đau bụng tái diễn

Đau bụng tái diễn được định nghĩa là những cơn đau lập lại ít nhất 3 đợt trong vòng 3 tháng trước đó. Tần suất mắc bệnh vào  khoảng 10%  trẻ từ 3-15 tuổi, hiếm khi gặp ơ trẻ < 4 tuổi, thường gặp nhất ở lứa tuổi 8-10 và trẻ gái tuổi dậy thì;  trẻ gái chiếm đa số. Nguyên nhân đau bụng tái diễn có thể gồm 3 nhóm: thực thể, chức năng hay có nguồn gốc tâm lý. Nhiều nguyên nhân có thể xuất hiện trên một bệnh nhân. Thường có mối liên quan giữa thực thể hay chức năng, đặc tính về nhân cách hay cảm xúc cũng như thói quen trong cuộc sống. Ở các nước đang phát triển, đau bụng tái diễn có nguồn gốc tâm căn chiếm khoảng 80-90% bệnh nhân,  do thực thể hay chức năng chiếm khoảng 5-10%.

Nguyên nhân

Bằng chứng để xác định nguyên nhân thực thể khá giới hạn. Đặc biệt cần phải chú ý đến những yếu tố tâm sinh lý.

Đau bụng tái diễn kèm theo những triệu chứng khác:

Triệu chứng gan- mật (Đau vùng hạ sườn phải): Bệnh lý đường mật ( Viêm đường mật).

Đau ở vùng hạ sườn trái, có hướng lan ra xương bả vai: Bệnh cảnh của tụy ( Viêm tụy, u giả nang tụy, tăng lipid máu typ1).

Nôn mửa có thể kèm theo nôn ra máu và đau bụng sau bữa ăn, nghỉ đến nguyên nhân ở đường tiêu hóa trên: trào ngược dạ dày- thực quản, loét dạ dày thực quản. Một trong những nguyên nhân quan trong của cơn đau bụng tái diễn ở trẻ em là do Helicobacter pylori.Chẩn đoán gián biệt quan trọng là bệnh lý trên cơ hoành, nhất là viêm màng ngoài tim.

Ỉa chảy tái diễn, thỉnh thoảng có máu, tổng trạng giảm kèm theo hội chứng viêm: Hướng chẩn đoán đến một tình trạng bệnh lý ở đường tiêu hóa thấp: Bệnh Crohn, viêm đại tràng chảy máu (chẩn đoán xác định cần phải có những thăm dò chức năng khác như soi trực tràng, chụp.

đại tràng với baryt hay chụp ruột non với thuốc cán quang), bất dung nạp protein sữa bò, viêm đại tràng do vi khuẩn hay ký sinh trùng..

Tuy nhiên một số trường hợp ngoại khoa đã biết rõ như bệnh lý của túi thừa Meckel ( xuất huyết tái diễn, thiếu máu thiếu sắt) rất khó chẩn đoán với các kỹ thuật thăm dò cổ điển như chụp khung đại tràng mà chỉ xác định được nhờ chụp nhắp nháy ( Scintigraphie); ruột đôi hay nang mạc treo.

Bệnh lý ở đường tiết niệu sinh dục nếu kèm theo các triệu chứng như như đái khó, đái ra máu, đau vùng hạ vị hay vùng hông. Có thể là bệnh cảnh của nhiễm trùng đường tiểu, dị tật đường tiểu hay sỏi tiết niệu; hay bệnh lý của buồng trứng hay phần phụ ở trẻ tiền dậy thì.

Hội chứng viêm.

Dấu chứng thần kinh như nhức đầu, nôn mửa, kèm theo những dấu cứng thần kinh bất thường khác cần nghỉ đến tăng áp lực nội sọ, hay migraine hay động kinh thể bụng.

Bệnh lý về chuyển hóa như hạ đường máu, porphyries.

Đau bụng tái diễn đơn độc:

Vị trí cơn đau rất quan trọng để xác định nguyên nhân đau.

Đau vùng hạ sườn: Nghỉ đến nguyên nhân gan mật.

Đau vùng thượng vị: Bệnh lý ở thực quản, trung thất, hay dạ dày.

Đau vùng quanh rốn: Bệnh lý ở khung đại tràng, ruột non hay rể thần kinh.

Đau vùng hạ sườn trái: Bệnh lý ở tụy hay sỏi tiết niệu, hay cũng có thể là đau do táo bón.

Đau vùng hạ vị: Bệnh lý ở đường tiểu hay phụ khoa ( trẻ gái), Cần phải thăm trực tràng.

Xét nghiệm

Công thức máu, VS. transaminase, amylase máu, xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng, hồng cầu và tế bào ), siêu âm bụng.

Thăm dò khác: Chụp khung đại tràng, chụp dạ dày với baryt, UIV. Chụp cắt lớp vùng quanh rốn ( tất cả những đau bụng quanh rốn cần xác định nguyên nhân thực thể).

Đánh giá về nhân cách của trẻ và tìm hiểu những mối quan hệ của trẻ đối với gia đình  và trẻ đối với môi trường xung quanh.

Xử trí

Xử trí nguyên nhân. Tùy thuộc nguyên nhân có một thái độ xử trí khác nhau. Cần chú ý những trường hợp đau bụng cấp có nguyên nhân từ ngoại khoa như viêm ruột thừa hay lồng ruột để chẩn đoán chính xác và sớm hầu có thái độ  điều trị kịp thời.

Thuốc: Rất thận trọng khi dùng thuốc giảm đau, giảm nhu động ruột  khi chưa xác định nguyên nhân

Cần vỗ về an ủi trẻ, và động viên bố mẹ, tránh tạo sự lo lắng hay kích thích cho bố mẹ trẻ khi không cần thiết.

Bài viết cùng chuyên mục

Phì đại tuyến hung ở trẻ em

Tuyến hung phì đại hay gặp nhất ở các trường hợp trung thất có khối mà không phải do hạch. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, hiếm gặp ở trẻ trên 4 tuổi.

Viêm màng não mủ ở trẻ em

Viêm màng não mủ là tình trạng nhiễm khuẩn màng não do vi khuẩn gây nên. Ba loại vi khuẩn gây bệnh chính là: Hemophilus Influenza, não mô cầu và phế cầu.

Bệnh học nhiễm trùng tiết niệu ở trẻ em

Đau một bên hoặc cả hai bên lan xuống dưới; sờ, vỗ vào vùng hố thắt lưng bệnh nhân đau; có khi bệnh nhân đau như cơn đau quặn thận. Có khi sờ thấy thận to.

Bệnh học luput ban đỏ rải rác ở trẻ em (Luput ban đỏ hệ thống)

Chưa biết chắc chắn, có nhiều giả thuyết cho là do nhiễm khuẩn tiềm tàng ( Nhiễm vi khuẩn , Virut ...). Có thuyết cho là do hoá chất, có thuyết cho là do rối loạn chuyển hoá, nội tiết.

Viêm não nhật bản ở trẻ em

Viêm não Nhật Bản là bệnh nhiễm trùng cấp tính hệ thần kinh trung ương do virus viêm não Nhật Bản gây ra, là một bệnh nặng, nguy cơ tử vong và di chứng cao.

Đặc điểm da cơ xương trẻ em

Trong những tháng đầu sau đẻ, trẻ có hiện tượng tăng trương lực cơ sinh lý, trong đó trương lực của các cơ co tăng hơn các cơ duỗi. Do vây, trẻ thường nằm trong tư thế chân co, tay co, bàn tay nắm chặt.

Sự phát triển tâm thần và vận động của trẻ em

Trẻ sơ sinh chỉ có những cử động tự phát, không ý thức. Do vây các động tác này thường xuất hiện đột ngột, không có sự phối hợp và đôi khi xảy ra hàng loạt các động tác vu vơ.

Đặc điểm máu trẻ em

Sự tạo máu ở trẻ em tuy mạnh, song không ổn định. Nhiều nguyên nhân gây bệnh dễ ảnh hưởng đến sự tạo máu, do đó trẻ dễ bị thiếu máu, nhưng khả năng hồi phục của trẻ cũng rất nhanh.

Tổng quan nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp phổ biến ở thành thị hơn là nông thôn, tỉ lệ mắc bệnh ở nước ta tăng lên vào tháng 4, 5 và tháng 9, 10. Nguyên nhân có thể do yếu tố ấm nóng, gió.

Suy tim ở trẻ em

Dù bất cứ thay đổi sinh lý hay bệnh lý nào, cơ thể cũng tìm cách thích nghi để duy trì cung lượng tim và cung cấp O2 cho các tổ chức ở giới hạn ổn định hẹp, thông qua hàng loạt cơ chế bù trừ.

Nhiễm trùng rốn sơ sinh

Theo tổ chức y tế thế giới, có tới 47% trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng huyết có ngõ vào từ nhiễm trùng rốn và khoảng 21% các trường hợp trẻ sơ sinh đến khám vì lý do khác có kèm theo nhiễm trùng rốn.

Bệnh học ho gà

Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20 phần trăm, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis.

Bệnh học hội chứng cầu thận cấp ở trẻ em

Viêm cầu thận cấp không chỉ là một bệnh thông thường mà là một hội chứng gọi là Hội chứng cầu thận cấp. Bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, nguyên nhân phát sinh không chỉ do liên cầu mà còn do Tụ cầu, Phế cầu, Vi rút.

Chẩn đoán và xử trí ngộ độc cấp ở trẻ em

Ngộ độc ở trẻ em dưới 5 tuổi thường do uống lầm thuốc về liều lượng và chủng loại do cha mẹ hay do trẻ tò mò. Ngộ độc ở trẻ em lớn thường do tự tử.

Bệnh học hen ở trẻ em

Một số virus ái hô hấp như RSV hoặc parainfluenza virus cũng có thể gây hen thông qua sự tăng sản xuất IgE đặc hiệu đối với virus đó hoặc kích thích thụ thể phản xạ trục.

Các thời kỳ phát triển của trẻ em

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Khác với người lớn, trẻ em là một cơ thể đang phát triển. Phát triển là sự lớn lên về khối lượng và sự trưởng thành về chất lượng (sự hoàn thiên về chức năng các cơ quan).

Bù nước cho trẻ em tiêu chảy và tiếp tục cho ăn

Không bao giờ cho thuốc cầm tiêu chảy hay thuốc chống nôn cho trẻ. Việc này không giúp ích trong điều trị tiêu chảy và một số thuốc này lại nguy hiểm.

Vàng da do bất đồng nhóm máu ABO ở trẻ em

Bất đồng nhóm máu ABO thường gặp ở trẻ có nhóm máu A hay B với bà mẹ có nhóm máu O. Đây là tình trạng tán huyết đồng miễn dịch gây nên khi có bất đồng nhóm máu ABO giữa bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Cách dùng thuốc cho trẻ em

Không được dùng hoặc phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ những loại thuốc gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cơ thể, vì trẻ em là những cơ thể đang phát triển.

Chăm sóc trẻ em thiếu máu do thiếu sắt

Thiếu máu là tình trạng giảm lượng hemoglobin (Hb) hay khối hổng cầu trong một đơn vị thể tích máu, hemoglobin hay khối hổng c ầu thấp hơn giới hạn bình thường của người cùng lứa tuổi.

Rối loạn lo âu ở trẻ em

Rối loạn lo âu là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất mơ hồ, vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống.

Sự phát triển về thể chất của trẻ em

Để đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em, có thể dựa vào việc theo dõi sự phát triển về cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và tỷ lệ giữa các phần của cơ thể​.

Chăm sóc trẻ nhỏ bị bệnh khi khám lại

Khi trẻ nhỏ được phân loại nhiễm khuẩn tại chỗ đến khám lại sau 2 ngày, hãy theo những chỉ dẫn ở khung “Nhiễm khuẩn tại chỗ trong phần khám lại của phác đồ.

Xuất huyết màng não muộn do thiếu Vitamin K ở trẻ em

Xuất huyết não màng não muộn xảy ra ở trẻ từ 15 ngày tuổi đến 6 tháng tuổi và nhiều nhất là ở trong khoảng từ 1 đến 2 tháng tuổi. Thường các triệu chứng xuất hiện đột ngột và nhanh nên.

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một chiến lược hay một giải pháp nhấn mạnh tới sự phát triển phổ câp các dịch vụ y tế. Các dịch vụ này người dân chấp nhân được