Xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát ở trẻ em (ITP)

2011-12-07 03:06 PM
Ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát (ITP) là các trường hợp xuất huyết giảm tiểu cầu tiên phát, không rõ nguyên nhân, loại trừ các trường hợp giảm tiểu cầu thứ phát

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát (ITP) là các trường hợp xuất huyết giảm tiểu cầu tiên phát, không rõ nguyên nhân, loại trừ các trường hợp giảm tiểu cầu thứ phát sau một bệnh rõ ràng.

Chẩn đoán

Lâm sàng

Bệnh xảy ra từ từ, hoặc nhanh, cấp hoặc mạn tính.

Xuất huyết:

Dưới da: Chấm, nốt, mảng bầm máu.

Niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, chân răng.

Nội tạng: Não, màng não, phổi, tiêu hoá, tiết niệu, sinh dục (đa kinh, rong
kinh).

Thiếu máu tương xứng với mức độ chảy máu.

Gan, lách, hạch không to.

Cận lâm sàng

Máu chảy kéo dài.

Số lượng tiểu cầu dưới 100 x 109/l.

Tuỷ đồ bình thường hoặc tăng mẫu tiểu cầu.

Điều trị

Điều trị đặc hiệu

Trường hợp cấp:

Số  lượng tiểu cầu < 20 x 109/l:

Solumedrol 5mg/kg/ngày trong 5 ngày.

Sau đó Prednisolon 2mg/kg/ngày trong 2 tuần Rồi giảm liều và ngừng thuốc sau 4 tuần.

Số lượng tiểu cầu > 20 x 109/l:

Prednisolon 2mg/kg/ngày trong 3 tuần.

Rồi giảm liều và ngừng thuốc sau 4 tuần.

Trường hợp mạn tính:

Giảm tiểu cầu dai dẳng trên 6 tháng.

Số lượng tiểu cầu < 50 x 109/l:

Xuất huyết nặng:

Dùng lại một đợt như xuất huyết giảm tiểu cầu cấp hoặc Imumunoglobulin tiêm tĩnh mạch 1g/kg/ngày truyền chậm 8 - 12 giờ trong 2 ngày.

Sau đó kết hợp dùng các thuốc giảm miễn dịch khác như: Azathioprin 2mg/kg/ngày trong 3 - 4 tháng hoặc Sandimum Neoral 2mg/kg/ngày trong 4 - 6 tháng.

Xuất huyết nhẹ:

Prednisolon 0,1mg/kg/ngày.

Kết hợp với các thuốc miễn dịch khác (azathioprin, Sandimum Neoral).

Số lượng tiểu cầu > 50 x 109/l, không xuất huyết:

Không dùng thuốc.

Theo dõi định kỳ.

Hạn chế hoạt động mạnh như thể dục thể thao.

Chỉ định cắt lách:

Có nhiều đợt xuất huyết nặng đe doạ tính mạng.

Dùng thuốc không đáp ứng sau 6 tháng.

Trẻ trên 5 tuổi.

Điều trị hỗ trợ

Cầm máu tại chỗ:

Chảy máu mũi: Nhét gạc hoặc Gelaspon mũi trước.

Rỉ máu chân răng: Ép chặt bông có tẩm Adrenalin vào nơi chảy máu.

Truyền khối tiểu cầu:

Khi xuất huyết nặng: Tiêu hoá, thận, tiết niệu … 1đv/5 - 10kg cân nặng.

Chăm sóc và theo dõi

Nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động.

Vệ sinh răng miệng.

Tránh ăn những thức ăn gây xước niêm mạc miệng, lưỡi như mía …

Theo dõi tình trạng xuất huyết, mức độ mất máu.

Hẹn khám định kỳ.

Bài xem nhiều nhất

Chăm sóc trẻ bị bệnh tiêu chảy cấp

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh

Chăm sóc trẻ bị viêm phổi nặng

Vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào phổi gây tổn thương viêm các phế quản nhỏ, túi phổi (phế nang) và tổ chức xung quanh phế nang. Do phổi bị tổn thương gây tăng tiết đờm rãi

Cách dùng thuốc cho trẻ em

Không được dùng hoặc phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ những loại thuốc gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cơ thể, vì trẻ em là những cơ thể đang phát triển

Sốt cao gây co giật ở trẻ em

Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng về nguyên nhân co giật do sốt. Việc xác định tính trội hay lặn của nhiễm sắc thể và nhiều cơ chế di truyền khác

Chẩn đoán và xử trí co giật ở trẻ em

Ở trẻ em, vì nguyên nhân gây co giật rất phong phú nên hình thái lâm sàng cũng rất đa dạng, do đó người thầy thuốc phải nắm vững cơ chế bệnh sinh, cách phân loại

Đặc điểm máu trẻ em

Sự tạo máu ở trẻ em tuy mạnh, song không ổn định. Nhiều nguyên nhân gây bệnh dễ ảnh hưởng đến sự tạo máu, do đó trẻ dễ bị thiếu máu, nhưng khả năng hồi phục của trẻ cũng rất nhanh

Các thời kỳ phát triển của trẻ em

Sự hình thành và phát triển thai nhi hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ (thể chất, tinh thần, xã hội và bệnh tật) của người mẹ.

Bệnh học HIV AIDS ở trẻ em

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh do HIV là các biểu hiện của nhiễm trùng cơ hội và các bệnh u. Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi ở nhiều cơ quan, dễ nhầm với nhiều bệnh.

Đặc điểm hệ hô hấp trẻ em

Các xoang hàm đến 2 tuổi mới phát triển, xoang sàng đã xuất hiên từ khi mới sinh nhưng tế bào chưa biệt hoá đầy đủ, vì vây trẻ nhỏ ít khi bị viêm xoang.

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không những có tỷ lê mắc bệnh cao mà còn bị mắc nhiều lần trong năm, trung bình 1 trẻ trong 1 năm có thể bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3 -5 lần