Verapamil nhạy cảm với nhịp nhanh thất trên điện tâm đồ

Ngày: 2012-7-5

By member of dieutri.vn

Bất thường điện giải, đặc biệt là hạ kali máu hoặc ma giê máu, toan chuyển hóa máu, thiếu oxy, và các hiệu ứng có hại của thuốc đóng góp vào

Nhịp nhanh thất là ≥ 3 nhịp thất liên tiếp với tốc độ ≥ 120 nhịp / phút. Các triệu chứng phụ thuộc vào thời gian và thay đổi từ không có đến hồi hộp, hạ huyết áp và tử vong. Chẩn đoán bằng ECG. Điều trị cơn ngắn là chuyển nhịp hoặc thuốc chống loạn nhịp tùy thuộc vào triệu chứng. Nếu cần thiết, điều trị lâu dài bằng cấy ghép một máy khử rung tim.

Một số chuyên gia sử dụng một tỷ lệ điểm cắt ≥ 100 nhịp / phút cho nhịp nhanh thất. Nhịp điệu thất lặp đi lặp lại ở tốc độ chậm hơn được gọi là nhịp tự thất gia tốc hoặc nhanh thất chậm; thường là lành tính và không được điều trị trừ khi kết hợp với các triệu chứng huyết động.

Hầu hết bệnh nhân VT có rối loạn tim đáng kể, đặc biệt là trước khi nhồi máu cơ tim hoặc một bệnh cơ tim. Bất thường điện giải (đặc biệt là hạ kali máu hoặc ma giê máu), toan chuyển hóa máu, thiếu oxy, và các hiệu ứng có hại của thuốc đóng góp vào. Hội chứng QT dài (bẩm sinh hoặc mắc phải) được liên kết với một hình thức đặc biệt của nhanh thất, xoắn đỉnh.

Nhịp nhanh thất có thể đơn hoặc đa hình và cơn hoặc duy trì. Nhanh thất đơn hình là kết quả từ sự tập trung hay vào lại con đường bất thường duy nhất và có thường xuyên, phức hợp QRS giống hệt nhau xuất hiện. Nhanh thất đa hình là kết quả từ các ổ hoặc các con đường khác nhau và do đó là bất thường, phức hợp QRS khác nhau. Nhanh thất không liên tục kéo dài < 30 giây; nhanh thất tục kéo dài ≥ 30 giây hoặc bị chấm dứt sớm hơn vì sự sụp đổ huyết động. Nhanh thất thường xuyên có thể dẫn đến ngừng tim.

Verapamil nhạy cảm với nhịp nhanh thất (block nhánh phải với trục lệch trái) điển hình của nhịp nhanh thất có nguồn gốc từ khu vực bên bó trái sau của vách ngăn tâm thất trái. Lưu ý QRS tương đối hẹp.