Ho gà

2016-03-22 07:18 PM

Các triệu chứng bệnh ho gà thường kéo dài 6 tuần và diễn biến theo 3 giai đoạn liên tiếp: giai đoạn viêm long ban đầu, có đặc điểm là khởi phát kín đáo.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Gặp chủ yếu ở trẻ < 2 tuổi. Người lớn là ổ truyền bệnh chính.

Giai đoạn tiền triệu 2 tuần có: mệt nặng, ho, chảy nước mũi và chán ăn.

Cơn ho rũ sau khi có tiếng ho rít như gà gáy.

Tăng cao số lượng tuyệt đối bạch cầu lympho trong máu. Cấy máu có vi khuẩn ho gà.

Nhận định chung

Ho gà là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp gây ra do vi khuẩn Bordetella pertussis (gram - ) lây bệnh qua các giọt nhỏ dịch tiết đường hô hấp. Thời gian ủ bệnh từ 7 - 17 ngày. Nói chung trẻ em rất dễ bị nhiễm khuẩn, hơn 1/2 số trẻ bị bệnh trước 2 tuổi. Cả sau khi bị bệnh lẫn tiêm chủng đều không cho miễn dịch kéo dài chống lại vi khuẩn ho gà. Vì vậy, người lớn dễ trở thành người mang vi khuẩn.

Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng bệnh ho gà thường kéo dài 6 tuần và diễn biến theo 3 giai đoạn liên tiếp: giai đoạn viêm long ban đầu, có đặc điểm là khởi phát kín đáo, chảy nước mắt, nước mũi, hắt hơi, chán ăn, mệt mỏi và ho đêm rồi lan dần sang ho ngày. Tiếp đến là giai đoạn toàn phát với các cơn kịch phát có đặc điểm là từng đợt nhanh chóng - gồm một số tiếng ho liên tiếp rồi đến tiếng thở vào mạch âm sắc cao (gáy). Giai đoạn lui bệnh thường là sau 4 tuần kể từ khi bị bệnh, đánh dấu bằng sự giảm dần cả về tần số vả mức độ nặng của các cơn ho kịch phát. Người lớn cũng rất có thể bị bệnh tương tự, nhưng thường dễ bị bỏ qua. Khi có ho kéo dài trên 2 tuần, thường phải nghĩ đến ho gà. Tuy nhiên, bệnh có thể ở thể không có triệu chứng.

Bạch cầu máu thường cao từ 15 - 20.000/mm3 hiếm khi vượt quá 50.000/mm3, trong đó 60 - 80% là lympho. Xác định chẩn đoán khi phân lập được vi khuẩn ho gà ở chất ngoáy mũi họng trên môi trường đặc biệt (hạch máu Bordet- Gengou).

Phòng bệnh

Tiêm chủng vaccin chống ho gà được khuyến nghị phối hợp với giảm độc tố bạch cầu và uốn ván (DTP) cho tất cả mọi trẻ em. Khi tiếp xúc với người bị ho gà, cả trẻ em và người lớn đều cần điều trị dự phòng bằng uống erythromycin 40mg/kg/ngày (tối đa là 2g) dùng trong 10 ngày. Không tiêm mũi nhắc lại tăng cường cho trẻ trước 6 tháng (trừ khi cần thiết để khống chế dịch). Việc phát hiện ra rằng người lớn là ổ mang vi khuẩn và việc tìm ra vaccin không phải là tế bào nguyên vẹn, có ít tác dụng phụ hơn đã dẫn đến việc xem xét lại khuyên nghị lịch tiêm chủng ở người lớn.

Điều trị

Dùng erythromycin 500mg, uống ngày 4 lần trong 10 ngày làm cho thời gian vi khuẩn gây bệnh ngắn hơn, đồng thời cũng có thể giảm bớt cường độ cơn ho kịch phát.

Bài viết cùng chuyên mục

Các loại bệnh do Campylobacte gây ra

C. fetus gây bệnh toàn thân, thậm chí có thể gây tử vong như nhiễm khuẩn huyết tiên phát, viêm nội tâm mạc, viêm màng não, áp xe khu trú.

Nhiễm khuẩn bệnh viện

Nói chung, các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường có xu hướng đa kháng và không nhậy cảm với các loại kháng sinh dùng để điều trị nhiễm khuẩn tại cộng đồng.

Sốt phát ban thành dịch do bọ chét

Ban ở dạng dát sẩn tập trung ở thân mình và mờ đi tương đối nhanh, ít gặp bệnh nhân tử vong và thường chỉ xảy ra ở người già.

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục

Ghẻ cóc là một bệnh truyền nhiễm phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, do T. pallidum dưới nhóm pertenue gây nên. Đặc trưng của bệnh là các tổn thưong u hạt ở da, niêm mạc và xương.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm do tụ cầu vàng

Viêm da do tụ cầu vàng thường khởi đầu quanh một hay nhiều ổ viêm nang lông, và có thể khu trú để tạo thành nhọt hoặc lan rộng đến vùng da lân cận và tới các mô sâu dưới da tạo thành ung nhọt lớn.

Bệnh do Leptospira

Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện.

Thủy đậu (varicella) và zona

Sốt và khó chịu thường nhẹ ở trẻ em, và nặng hơn ở người lớn, các tổn thương phỏng nước nhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết loét nhỏ.

Bệnh đậu do rickettsia

Bạch cầu giảm, nồng độ kháng thể tăng bằng phản ứng kết hợp bổ thể hoặc dùng phản ứng huỳnh quang gián tiếp sử dụng globulin kháng rickettsia liên hợp.

Nhiễm virus Poxvirus

Vaccin bệnh đậu bò có khả năng loại trừ một phần bệnh đậu mùa. Vaccin thông thường chỉ được dùng cho người ở phòng xét nghiệm vì người này phải tiếp xúc với virus.

Nhiễm virus herpes typ 6, 7, 8 (HHV)

Nhóm virus này có liên quan tới thải bỏ mảnh ghép và ức chế tủy xương ở người ghép tổ chức, gây viêm phổi và viêm não ở bệnh nhân AIDS.

Sốt do ve

Ở Mỹ, trong 10 năm có 67 trường hợp bị bệnh được phát hiện, phần lớn trong số đó là đi du lịch về từ châu Phi, gồm cả Somalia. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, huyết thanh lọc và kỹ thuật PCR.

Nhiễm khuẩn da do liên cầu

Đối với những bệnh nhân có dấu hiệu toàn thân nặng hoặc bệnh phân bị viêm tổ chức tế bào da ở mặt, cần dùng kháng sinh đường toàn thân.

Sốt đốm xuất huyết vùng núi Rocky

Tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu, hạ natri máu, protein niệu, hồng cầu niệu là hay gặp. Dịch não tủy có thể có glucose giảm, tăng nhẹ bạch cầu lympho.

Vãng khuẩn huyết và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn gram âm

Kháng sinh phải được dùng ngay khi có chẩn đoán, vì điều trị chậm sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong. Nói chung cần dùng bằng đường tĩnh mạch để đảm bảo được nồng độ cần thiết.

Những hội chứng do virus epstein barr

Các virus herpes có khả năng làm biến đổi tế bào, khi nuôi cấy trong tổ chức và đi kèm với các bệnh ác tính như virus Epstein Barr gây u lympho Burkitt.

Hội chứng sốc nhiễm độc tụ cầu

Đặc điểm của hội chứng sốc nhiễm độc là sốt cao đột ngột, nôn, tiêu chảy kèm theo đau họng, mệt lử và đau đầu. Trong những trường hợp nặng có thể có các biểu hiện như hạ huyết áp, suy thận, suy tim.

Bệnh mèo cào

Nhưng vi khuẩn Bartonella quintana cũng có thể gây bệnh u mạch lan toả do vi khuẩn và viêm nội tâm mạc mà khi cấy vi khuẩn không mọc.

Viêm dạ dày ruột do Escherichia Coli

Kháng sinh không có tác dụng, điều trị nâng đỡ là chủ yếu. Khi có tiêu chảy và hội chứng urê huyết - huyết tán đồng thời, cần nghĩ tới E. coli gây xuất huyết và phát hiện chúng.

Viêm não do arbovirus

Nguyên nhân hàng đầu của viêm não arbovirus là viêm não California và viêm não St. Louis. Mầm bệnh tồn tại trong tự nhiên là ở những động vật có vú nhỏ đặc trưng và một số loại chim.

Viêm họng nhiễm khuẩn do liên cầu

Liên cầu tan huyết bê ta nhóm A là vi khuẩn gây viêm họng xuất tiết phổ biến nhất. Bệnh lây qua các giọt nước bọt có vi khuẩn.

Bệnh do Nocardia

Bệnh có thể khuếch tán đến bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Áp xe não và các cục dưới da là hay gặp nhất, nhưng chỉ gặp ở người bị suy giảm miễn dịch.

Bệnh do Brucella

Khởi phát thường đột ngột: sốt, rét run, toát mồ hôi nhưng thông thường chỉ khởi phát âm ỉ. Bệnh nhân đến khám sau nhiều tuần có mệt mỏi, sút cân, sốt nhẹ, ra mồ hôi, mệt nhanh dù làm việc nhẹ.

Bệnh bạch hầu

Có thể gặp các thể bệnh ở mũi, họng, thanh quản và ở da. Nhiễm khuẩn ở mũi có rất ít triệu chứng, chủ yếu là chảy nước mũi.

Nhiễm khuẩn tụ cầu không tiết coagulase

Vì tụ cầu không tiết coagulase là vi khuẩn bình thường trên da người, nên phân lập được nó khó có thể nói đó là nhiễm khuẩn hay nhiễm bẩn khi cấy máu mà tìm thấy có vi khuẩn này.

Sốt xuất huyết

Những người có triệu chứng giống như những triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết và những người đến từ vùng dịch tễ phải được cách ly để chẩn đoán vả điều trị triệu chứng.