Xét nghiệm tiêu bản máu ngoại vi

2018-02-23 12:02 PM

Hồng cầu đa kích thước-kích thước hồng cầu không đều nhau, các tế bào khổng lồ là hậu quả của quá trình tổng hợp DNA từ tiền thân hồng cầu bị chậm lại do thiếu folate hoặc vitamin B12.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hình thái hồng cầu

Bình thường: đường kính 7.5 μm. Xấp xỉ nhân của tế bào lympho nhỏ.

Hồng cầu lưới (vết Wright)-lớn, xanh xám, lẫn hồng (hồng cầu đa sắc).

Hồng cầu đa kích thước-kích thước hồng cầu không đều nhau, các tế bào khổng lồ là hậu quả của quá trình tổng hợp DNA từ tiền thân hồng cầu bị chậm lại do thiếu folate hoặc vitamin B12 hoặc tác dụng của thuốc; hồng cầu nhỏ sản sinh do sai sót trong tổng hợp hemoglobin vì thiếu sắt hoặc gen hemoglobin bất thường.

Bệnh hồng cầu biến dạng- hồng cầu có hình dạng bất thường; ví dụ:

1. Hồng cầu hình gai (spur cells)-có gai không đều; do bất thường về betalipoprotein, bệnh gan nặng, hiếm gặp do chán ăn tâm thần.

2. Hồng cầu hình răng cưa (burr cells)-hình dạng cân đối, các gai phân bố đều nhau; gặp trong giảm thể tích hồng cầu, ure máu.

3. Hồng cầu hình bầu dục-hồng cầu có hình elip; bệnh hồng cầu hình bầu dục di truyền.

4. Mảnh vỡ hồng cầu-các mảnh hồng cầu vỡ với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau; thiếu máu huyết tán do bệnh lý vi mạch hoặc mạch máu lớn.

5. Hồng cầu hình liềm-hồng cầu thon dài, hình lưỡi liềm; thiếu máu hồng cầu hình liềm.

6. Hồng cầu hình cầu-hồng cầu nhỏ, ưu sắc, mất vùng sáng trung tâm; gặp trong bệnh hồng cầu hình cầu di truyền, tan máu ngoài mạch như thiếu máu tan máu tự miễn, thiếu G6PD.

7. Hồng cầu hình bia bắn-giữa vùng nhạt màu xuất hiện thêm vùng bắt màu đậm ở trung tâm và vành ngoài ; gặp trong bệnh gan, thalassemia, bệnh hemoglobin C và S/C.

8. Hồng cầu hình giọt nước-gặp trong xơ tủy nguyên phát, các quá trình thâm nhiễm khác của tủy (VD carcinoma).

9. Hồng cầu chuỗi tiền-hồng cầu đứng sát nhau tạo thành chuỗi; có thể giả tạo hoặc do paraprotein máu (VD đa u tủy xương, macroglobulin máu).

Thể vùi trong hồng cầu

Thể Howell-Jolly-mảnh nhân hồng cầu còn sót lại nằm trong bào tương, ái kiềm, đường kính 1 μm, thường đơn độc; ở bệnh nhân không có lách hoặc cắt lách.

Các chấm ưa base-nhiều, các thể vùi ưa base lấm tấm do sự ngưng kết của ti thể và ribosom; gặp trong nhiễm độc chì, thalassemia, xơ tủy nguyên phát.

Thể Pappenheimer-các hạt này có chứa sắt, thường gồm ti thể và ribosom giống như các chấm ưa base nhưng có bắt màu Prussian xanh; gặp trong nhiễm độc chì, các thiếu máu nguyên hồng cầu khác.

Thể Heinz-thể vùi hình cầu của hemoglobin ngưng kết, chỉ thấy được khi nhuộm sống, VD nhuộm bằng tím tinh thể; thiểu G6PD (sau stress oxi hóa như nhiễm trùng, một số thuốc), hemoglobin không bền.

Ký sinh trùng-các thể vùi trong bào tương đặc trưng; sốt rét, babesiosis.

Thể vùi bạch cầu và các bất thường viền nhân

Các hạt độc-các hạt bào tương tối màu; gặp trong nhiễm vi khuẩn.

Thể Döhle-các thể vùi bào tương hình ovan, màu xanh, kích thước 1-2μm; gặp trong nhiễm vi khuẩn, hội chứng Chédiak-Higashi.

Que Auer-các thể vùi bào tương hình que, ái toan; gặp trong một số trường hợp bạch cầu cấp dòng tủy.

Nhân tăng đoạn-nhâc bạch cầu trung tính chứa nhiều hơn bình thường 2-4 thùy; thường > 5% tế bào có ≥ 5 thùy hoặc một tế bào có 7 thùy là đủ để chẩn đoán; gặp trong thiếu folate hoặc B12, tác dụng của thuốc.

Nhân giảm đoạn-nhân bạch cầu trung tính chứa ít hơn bình thường 1 hoặc 2 thùy: bất thường Pelger-Hüet, tế bào giả Pelger-Hüet hoặc Pelger-Hüet mắc phải trong bạch cầu cấp.

Các bất thường về bạch cầu

Kết vón tiểu cầu-giả tạo, trong ống nghiệm-dễ bị phát hiện trên tiêu bản; có thể dẫn tới sai sót giảm số lượng tiểu cầu khi đếm bằng máy đếm tự động.

Tiểu cầu khổng lồ-dấu hiệu của tiểu cầu non hoặc tăng sinh tiểu cầu hoặc tế bào có nhân trưởng thành bất thường; nếu đường kính tiểu cầu > 5-6 μm, máy đếm tự động có thể không nhận dạng tiểu cầu.

Bài viết cùng chuyên mục

Thiếu hụt Aldosteron: suy tuyến thượng thận

Thiếu hụt aldosterone đơn thuần kèm theo sản xuất cortisol bình thường với giảm renin, như trong thiếu hụt aldosterone synthase di truyền.

Một số bệnh rối loạn xương

Điều trị bệnh lý nền đường ruột, NSAIDs có thể làm giảm các triệu chứng ở khớp nhưng có thể làm bùng phát bệnh đường ruột.

Thoái hóa khớp: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Tỉ lệ hiện hành của thoái hóa khớp tương quan rõ rệt với tuổi, và bệnh phổ biến ở nữ giới hơn là nam giới.

Rối loạn cương dương: rối loạn hệ sinh sản nam giới

Tiền sử cương dương buổi sáng sớm hoặc đêm là hữu ích cho việc phân biệt cương dương sinh lý với rối loạn cương dương do tâm lý.

Khối u hệ thần kinh: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Các triệu chứng khu trú gồm liệt nửa người, mất ngôn ngữ, hay giảm thị trường là điển hình của bán cấp và tiến triển.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô.

Xuất huyết tiêu hóa dưới: nguyên lý nội khoa

Chảy máu không kiểm soát hoặc kéo dài, tái xuất huyết nặng, dò động mạch chủ ruột, Trường hợp chảy máu tĩnh mạch thực quản khó điều trị, cân nhắc đặt sonde cửa chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh.

Phình động mạch chủ: nguyên lý nội khoa

Có thể thầm lặng về mặt lâm sàng, nhưng phình động mạch chủ ngực, có thể gây ra cơn đau sâu, lan tỏa, khó nuốt, khàn tiếng, ho ra máu, ho khan.

Ung thư thận: nguyên lý nội khoa

Cắt hoàn toàn thận là tiêu chuẩn đối với bệnh nhân ở giai đoạn I, II, và phần lớn giai đoạn III. Phẫu thuật cũng có thể được chỉ định trong những trường hợp di căn với các triệu chứng khó.

Rối loạn nhịp nhanh: nguyên lý nội khoa

Loạn nhịp với phức bộ QRS rộng có thể gợi ý nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất với dẫn truyền rối loạn. Các yếu tố thúc đẩy nhịp nhanh thất bao gồm.

Tăng áp lực nội sọ: nguyên lý nội khoa

Tăng áp lực nội sọ có thể xảy ra ở rất nhiều các bệnh lý gồm chấn thương đầu, xuất huyết trong nhu mô não, xuất huyết khoang dưới nhện với não úng thủy và suy gan đột ngột.

Ngộ độc sinh vật biển do ăn uống

Hội chứng Ciguatera liên quan đến ít nhất 5 loại độc tố có nguồn gốc từ tảo đơn bào hai roi quang hợp và tích lũy trong chuỗi thức ăn. Ba loại độc tố ciguatoxins chính.

Hội chứng mệt mỏi mãn tính: nguyên lý nội khoa

Điều trị CFS khởi đầu bằng sự nhận biết của bác sĩ dựa vào sự suy giảm các chức năng hằng ngày của bệnh nhân. Thông tin cho bệnh nhân những hiểu biết hiện tại về CFS.

Viêm bàng quang kẽ: nguyên lý nội khoa

Không giống như đau vùng chậu phát sinh từ các nguồn khác, đau do viêm bàng quang kẽ càng trầm trọng hơn khi đổ đầy bàng quang, và giảm khi bàng quang rỗng.

Hội chứng tăng tiết hormon tuyến yên

Các sản phẩm nội tiết của các tuyến ngoại vi, đến lượt nó, sẽ thông tin feedback lại vùng dưới đồi và tuyến yên để điều chỉnh chức năng tuyến yên.

Mệt mỏi toàn thân

Vì có nhiều nguyên nhân gây ra mệt mỏi, nên việc hỏi bệnh sử kĩ lưỡng, hỏi lược qua các cơ quan, và khám lâm sàng rất quan trọng để thu hẹp và tập trung vào các nguyên nhân phù hợp.

Hạ kali máu: nguyên lý nội khoa

Nguyên nhân của hạ Kali máu thì thường rõ ràng từ tiền sử, thăm khám, và hoặc xét nghiệm cận lâm sàng. Tuy nhiên, hạ Kali máu dai dẵng thì cần chi tiết hơn, đánh giá một cách hệ thống.

Bệnh hậu môn trực tràng và đại tràng

Các bất thường gồm thay đổi nhu động ruột lúc nghỉ và trong đáp ứng với stress thuốc cholinergic, cholecystokinin, thay đổi nhu động ruột non, tăng cảm giác tạng.

Loét dạ dày tá tràng (PUD): nguyên lý nội khoa

Hàng rào niêm mạch tá tràng bị xâm nhập bởi các tác động động hại của H, pylori ở vùng chuyển tiếp dạ dày, nguyên nhân do tăng tiết acid dịch vị hoặc hội chứng dạ dày rỗng nhanh chóng.

Nhện cắn: nguyên lý nội khoa

Vì hiệu quả còn nghi ngờ và yếu tố nguy cơ sốc phản vệ và bệnh huyết thanh, kháng nọc độc chỉ nên dành cho trường hợp nặng với ngưng hô hấp, tăng huyết áp khó trị, co giật hoặc thai kỳ.

Suy hô hấp: nguyên lý nội khoa

Suy hô hấp tăng cacbondioxit do giảm thông khí phút và/hoặc tăng khoảng chết sinh lý. Trình trạng chung liên quan với suy hô hấp tăng cacbondioxit gồm bệnh lý thần kinh cơ.

Ve cắn và liệt do ve

Trong khi ve hút máu ký chủ, thì các chất tiết của nó cũng có thể gây ra các phản ứng tại chỗ, truyền nhiều tác nhân gây bệnh, dẫn đến các bệnh lý gây sốt hoặc liệt.

Một số rối loạn thần kinh sọ

Một số rối loạn thần kinh sọ, rối loạn cảm giác mùi, đau thần kinh thiệt hầu, nuốt khó và khó phát âm, yếu cổ, liệt lưỡi.

Ung thư da biểu mô tế bào đáy: nguyên lý nội khoa

Loại bỏ tại chỗ bằng electrodesiccation và nạo, cắt bỏ, phẫu thuật lạnh hoặc xạ trị; hiếm khi di căn nhưng có thể lan rộng tại chỗ. Ung thư da biểu mô tế bào đáy gây tử vong là điều rất bất thường.

Viêm khớp dạng thấp: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Một bệnh đa cơ quan mạn tính không rõ nguyên nhân đặc trưng bởi viêm màng hoặt dịch dai dẳng, thường liên quan đến các khớp ngoại biên đối xứng.