Tình trạng tăng đông máu

2016-11-18 10:42 AM

Ung thư thường có nguy cơ tăng của cả huyết khối động mạch và tĩnh mạch. Trong một vài trường hợp, đông máu rải rác nội mạch mức độ thấp hình như cũng có trách nhiệm.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Trong nhiều trường hợp, huyết khối liên quan đến những yếu tố tại chổ gây ứ trệ dòng máu hay tổn thương của một mạch máu nhỏ. Thí dụ thường gặp nhất là huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân sau một nằm ngồi kéo dài trong một tư thế và huyết khối ở tĩnh mạch dài và chậu sau một phẫu thuật ở hông. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, một bệnh hệ thống làm tăng tổng quát nguy cơ bị huyết khối.

Những nguyên nhân của tình trạng tăng đông

Mắc phải

Ung thư

Rối loạn viêm nhiễm: viêm loét dại tràng.

Các rối loạn tăng sinh tủy.

Sau mổ.

Estrogen, mang thai.

Yếu tổ chống đông do luput.

Giảm tiểu cầu do heparin.

Kháng thể kháng cardiolipin

Bẩm sinh

Thiếu antithrombin III.

Yếu tố VIII Leyden.

Thiếu protein C.

Thiếu protein S.

Rối loạn fibrinogen máu.

Plasmlnogen bất thường.

Ung thư thường có nguy cơ tăng của cả huyết khối động mạch và tĩnh mạch. Trong một vài trường hợp, đông máu rải rác nội mạch mức độ thấp hình như cũng có trách nhiệm. Trong những trường hợp hiếm hoi, một yếu tố tiền đông do ung thư kích thích hệ thống đông máu. Rối loạn bệnh tăng sinh tủy xương như bệng đa hồng càu tiên phát, tăng tiểu cầu tiên phát, đái huyết sắc tố kịch phát về đêm có một tần suất cao bị huyết khối gây ra bởi những bất thường về chất lượng tiểu cầu. Đối với những bệnh đa hồng cầu tiên phát và tăng tiểu cầu tiên phát, huyết khối là nguyên nhân chính của tỉ lệ mắc bệnh và tử vong. Huyết khối tĩnh mạch có thể xẩy ra ở những vị trí bất thường như hệ thống tĩnh mạch mạc treo, gan hay lách. Huyết khối động mạch cũng xẩy ra và có thể biểu hiện như tắc nghẽn mạch máu lớn (đột quỵ, nhồi máu cơ tim) hay mạch máu nhỏ với đau rát ở tay và chân.

Heparin là một nguyên không thường gặp nhưng quan trọng của tình trạng tăng đông. Heparin thường hay gây giảm tiểu cầu trong 10% các quá trình điều trị. Thường là giảm tiểu cầu nhẹ và tự khỏi một cách tự phát. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp có giảm tiểu cầu nặng. Trong những trường hợp này huyết khối động mạch rất hay xẩy ra như một biến chứng. Động mạch bị tắc thường là động mạch lớn như động mạch chậu hoặc có khi cả động mạch chủ. Trong hoàn cảnh này, bắt buộc phải ngừng dùng heparin vì tiếp tục dùng thuốc bao giờ cũng dẫn đến một hậu quả tàn khốc.

Một số những sai sót hóa sinh bẩm sinh cũng có thể có tình trạng tăng đông. Thường là có tiền sử gia đình. Huyết khối thường đa số ở tĩnh mạch và có thể ở các tĩnh mạch lớn ở bụng. Huyết khối thường xẩy ra ở những người trưởng thành trẻ hơn là trẻ em và thường tăng lên do những yếu tố như chấn thương háy thai nghén. Thiếu antithrombin III là rất hay thấy trong các rối loạn này. Chẩn đoán có được bằng cách chứng minh trị giá các yếu tố trong huyết tương bị giảm. Rối loạn fibrinogen máu được chẩn đoán bằng thời giah reptilase kéo dài.

Hội chứng hoại tử da do warfarin có thể xẩy ra ở những bệnh nhân thiếu protein C không được chẩn đoán. Protein C là phụ thuộc vitamin K và có nửa đời sống ngắn hơn các protein đông máu. Warfarin, do tạo ra tình trạng phụ thuộc vitamin K, sẽ nhất thời làm suy giảm protein C trước khi dẫn đến hiện tượng chống đông. Suốt trong qúa trình tăng đông, do tình trạng thiếu protein C không được chống đỡ, huyết khối các mạch máu ở da có thể dẫn đến nhồi máu và hoại tử. Hội chứng có thể được dự phòng bằng sử dụng heparin trong 5 - 7 ngày cho đến khi warfarin gây được chống đông.

Điều trị

Nếu một bệnh nhân được thừa nhận là có tăng nguy cơ huyết khối, việc điều trị dự phòng có hiệu lực thường là có giá trị. Trước khi phẫu thuật, heparin liều nhỏ 500 đơn vị mỗi 8 - 12 giờ có thể giúp ích để giảm nguy cơ huyết khối quanh giai đoạn phẫu thuật. Tình trạng tăng đông trong ung thư có thể có lợi khi điều trị bằng heparin 10.000 đơn vị tiêm dưới da mỗi 12 giờ. Heparin trọng lượng phân tử thấp là chất có nhiều tiện lợi hơn mà hiệu quả tương đương, ít đòi hỏi các theo dõi labô hơn. Warfarin, thường không có hiệu quả trong dự phòng huyết khối trong trường hợp này, có vẻ như do hiện tượng đông máu rải rác nội mạch ở mức độ thấp. Ở những bệnh nhân bị bệnh tăng sinh tủy xương mà có triệu chứng huyết khối, điều trị chống tiểu cầu có thể tốt. Tuy nhiên, việc điều trị như vậy không được áp dụng bừa bãi vì những bệnh nhân này thường có tăng nguy cơ chảy máu. Đối với những bệnh nhân bị chứng đau đỏ đầu chi (erythromelalgia) (đau đỏ và bỏng rát ở cánh tay) dùng aspirin 325 mg hàng ngày thường luôn có hiệu quả.

Đối với những bệnh nhân có những thiếu sót hóa sinh bẩm sinh như thiếu antithrombin III hay thiếu các protein C và S phụ thuộc vitamin K thì dùng warfarin có hiệu quả và có thể phải cho suốt đời. Những thành viên trong gia đình phải được sàng lọc về sự hiện diện của những thiếu sót như vậy để ghi nhận được và kịp thời hành động đối với những nguy cơ huyết khối tăng lên.

Bài viết cùng chuyên mục

Giảm bạch cầu trung tính

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Bệnh học thiếu máu trong bệnh mạn tính

Việc chẩn đoán nhầm thiếu máu thiếu sát có thể xảy ra nếu hiện tượng tăng quá mức được thay thế bằng sắt huyết thanh giảm.

Bệnh lý đông máu trong bệnh gan

Bệnh lý đông máu do bệnh gan gây ra những bất thường rõ rệt hơn về thời gian prothrombin và thời gian thromboplastin một phần. Rất sớm trong tiến trình bệnh gan, chỉ có thời gian prothrombin bị tổn thương.

Các thể bệnh Thalassemia

Hội chứng α thalassemia thường gặp, trước hết ở những người từ Đông Nam chẩu Ấ, Trung Quốc, ít gặp hơn ở những người da đen bình thường.

Hemophila B: bệnh ưa chảy máu B

Hemophilia yếu tố IX được điều trị bằng yếu tố IX đâm đặc. Yếu tố VIII đậm đặc là không có hiệu quả trong thể bệnh hemophilia này, do vậy cần phải phân biệt giữa hai thể bệnh.

Thiếu máu huyết tán vi mạch và huyết tán liên quan nhiễm khuẩn

Thiếu máu huyết tán vi mạch là một nhóm bệnh trong đó xẩy ra sự phân mảnh hồng cầu. Thiếu máu ở nội mạch, gây hemoglobin huyết, hemoglobin niệu và trong những trường hợp nặng methalbumin huyết.

Thiếu máu thiếu sắt

Cũng có thể bị thiếu sắt vì chế độ ăn thiếu thốn nhưng điều này hiếm có ở người trưởng thành. Giảm hấp thụ sắt có thể là nguyên nhân thiếu sắt và thường do phẫu thuật dạ dày.

Bệnh bạch cầu và các rối loạn tăng sinh tủy

Tuy nhiên, những rối loạn này được xếp nhóm cùng nhau vì bệnh có thể tiến triển từ thể này thành thể khác và vì những bệnh lai tạo được xem xét một cách chung

Bệnh đa u tủy

U tủy là một bệnh của người lớn tuổi (tuổi trung bình lúc bị bệnh là 60). Đa số phàn nàn vì những triệu chứng liên quan đến thiếu máu, đau xương và nhiễm khuẩn. Phần nhiều là đau xương sống, xương sườn.

Thiếu máu hồng cầu non chứa sắt không Hemoglobin

Khi nhiễm độc chì là nguyên nhân, có thể điều trị bằng liệu pháp chelat hóa. Đôi khi bệnh giảm với những liều folat hoặc pyridoxin 200 mg/ngày, nhưng đa số không đáp ứng với điều trị.

U lympho không Hodgkin

Bệnh nhân u lympho không đau thường có hạch to, đau và khu trú hoặc phát triển rộng. Các hạch bạch huyết to có thể ở sau phúc mạc, mạc treo và hố chậu.

Hemophilia A: bệnh ưa chảy máu A

Thật đáng buồn, hiện nay nhiều người bị hemophilia có huyết thanh dương tính của nhiễm HIV lan truyền qua yếu tố VIII cô đặc và nhiều người đã bị AIDS.

Một số rối loạn đông máu bẩm sinh

Trong rối loạn hiếm gặp này, fibrinogen không có và cả thời gian prothrombin lẫn thời gian thromboplastin một phần đều kéo dài rõ rệt. Những bệnh nhân này có thể bị rối loạn chảy máu nặng giống như hemophilia.

Bệnh bạch cầu thể tủy mạn tính

Bệnh tiến triển thường có sốt mà không có nhiễm khuẩn, đau xương, lách to. Trong các cơn tăng nguyên bào, bệnh nhân có thể bị chẩy máu và nhiễm khuẩn do suy tủy xương.

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối là một hội chứng ít gặp đặc trưng bởi bộ năm triệu chứng của thiếu máu huyết tán bệnh động mạch nhỏ, giảm tiểu cầu, những bất thường về thần kinh, sốt và những bất thường của thận.

Bệnh hồng cầu hình thoi di truyền

Trong đa số thể bệnh hồng cầu hỉnh thoi di truyền, rối loạn huyết tán nhẹ được bù trừ tốt và chỉ thiếu máu ít hoặc không có. Tuy nhiên, những thể nặng hơn có thể gây thiếu máu, lách to và sỏi sắc tố mật.

Hội chứng loạn sản tủy

Loạn sản tủy bao gồm nhiều hội chứng không thuần nhất, Những loạn sản tủy không có tăng nguyên bào trong tủy được gọi là thiếu máu kháng điều trị có hoặc không có hồng cầu non chứa sắt

Thiếu acid folic

Acid folic là một thuật ngữ chung dùng cho acid pteroylmonoglutamic. Ở dạng như tetrahydrofolat, nó được dùng như một chất trung gian quan trọng của nhiều phản ứng.

Bệnh bạch cầu thể lympho mạn tính

Những bệnh tăng sinh lympho khác như macroglobulin máu Waldenstrom, bệnh bạch cầu tế bào tóc hay u lympho ở giai đoạn bệnh bạch cầu được phân biệt trên cơ sở hình thái các lympho bào lưu hành và tủy xương.

Thiếu men Glucose 6 phosphat dehydrogenase

Bệnh nhân thường vẫn khoẻ, không có thiếu máu mạn tính hay lách to. Huyết tán xẩy ra là kết quả của các stress oxy hóa trên hồng cầu phát sinh ra hoặc bởi nhiễm khuẩn hoặc do dùng một số thuốc nào đó.

Bệnh Hodgkin

Đa số bệnh nhân đến vì một khối không đau, thường là ở cổ, Những dấu hiệu khác yêu cầu sự chú ý về y tế là các triệu chứng thể trạng như sốt

Bệnh bạch cầu tế bào tóc

Đa số bệnh nhân bị tăng dần mệt nhọc. Một số khác thường phàn nàn vì triệu chửng có liên quan đến lách to nhiều và một số khác thì được chú ý vì nhiễm khuẩn.

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn là một bệnh tự miễn trong đó một tự kháng thể IgG được tạo thành gắn vào tiểu cầu. Còn chưa rõ là kháng nguyên nào trên bề mặt tiểu cầu tham gia vào.

Truyền máu: làm test hòa hợp, phản ứng và bệnh lây truyền

Hồng cầu đóng gói là một hợp thành được dùng nhiều nhất để làm tăng hematocrit. Mỗi đơn vị có một thể tích khoảng 300 mL trong đó gần 200 mL chứa hồng cầu.

Macroglobin máu Waldenstrom

Bệnh biểu hiện một cách âm thầm ở những bệnh nhân ở tuổi 60 - 70. Bệnh nhân thường bị mệt do thiếu máu. Tăng quánh của huyết thanh có thể biểu hiện trên một số mặt.