Bệnh học ngoại lao xương

Ngày: 2012-10-24

Từ tổn thương mô xốp có những hạt lao nhỏ ở trong sụn bọc sau đó mô xương trở nên mềm nhũn và lan tràn rất xa không có giới hạn rõ rệt, vỏ xương mỏng


Đại cương

Lao xương khớp là một bệnh nhiễm trùng xương khớp mạn tính, thứ phát truyền theo đường máu.

Lao xương giống viêm xương là hay gây tổn thương ở người trẻ, nhưng khác viêm xương, tổn thương của lao thường bắt đầu ở xương xốp sau đó lan ra xung quanh.

Vị trí thường gặp lao đốt sống 60%, khớp háng 15-20%, khớp gối 10-15% sau mới đến các khớp khác. Vị trí xương cứng thường thấy là lao đốt ngón bàn tay, bàn chân.

Theo Ledoux - Lebard không có hình ảnh lao ở chỗ gãy xương nhờ sự bồi đắp cơ thể làm cản trở sự tiến triển củ lao.

Thương tổn đầu tiên là một củ lao nhưng thường rất nhỏ và lớn dần, do vậy tuy đã có dấu hiệu lâm sàng nhưng chưa thay đổi trên X quang trong giai  đoạn đầu (thường thấy rõ sau hàng tháng hoặc hàng năm).

Khác viêm xương tủy là có quá trình kích thích tạo xương mới, lao xương chỉ có phá hủy gây tiêu xương và xương chết, xuơng tù.

Giải phẫu bệnh

Thể khu trú

Lúc đầu mô xương xốp mất dần và có 2 khả năng trở thành mủ bã đậu hoặc xơ hóa (ít hơn), hang lao chứa mủ bã đậu và các mảnh xương chết nhỏ.

Thể lan rộng

Từ tổn thương mô xốp có những hạt lao nhỏ ở trong sụn bọc sau đó mô xương trở nên mềm nhũn và lan tràn rất xa không có giới hạn rõ rệt, vỏ xương mỏng, những áp-xe lạnh này có thể từ dưới màng xương lấn dần vào phần mềm chung quanh.

Dù ổ lao được khu trú, trực khuẩn lao vẫn tồn tại và nguy cơ nhiễm trùng bùng nổ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Phần lớn các ổ lao  bắt đầu từ một điểm  xương ở mô xốp rồi lan dần khắp khớp và phá hủy các mặt khớp, có trường hợp từ bao  khớp lan vào khớp hoặc từ sụn khớp và phá hủy dần mặt khớp.

Triệu chứng lâm sàng

Thường diễn biến qua 3 giai đoạn.

Giai đoạn khởi đầu (xâm nhập)

Chưa có triệu chứng lâm sàng điển hình, ảnh hưởng toàn trạng ăn ít, gầy sút, mất ngủ

Cơ thể mỏi hoặc đau ở khớp hoặc đau mơ hồ ở vị trí xa hơn không điển hình.

Tại chỗ:

Ấn vào khớp đau.

Vận động khớp đau.

Bao  khớp dày lên khi sờ thấy.

Teo cơ quanh khớp.

Hạch tương ứng vùng lao tròn, di động không đau.

X quang xương có thể thấy:

Hình ảnh loãng xương.

Mặt khớp mờ hoặc nham nhở.

Hẹp khe khớp.

Chẩn đoán cận lâm sàng khác

IDR, BK đàm, X quang phổi.

UIV, xét nghiệm nước tiểu.

Chọc khớp để cấy dịch và soi trực tiếp.

Sinh thiết bao khớp

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn phá hủy)

Đầy đủ các triệu chứng điển hình với khớp sưng to, nhợt nhạt, cơ quanh khớp teo mạnh.

Ví dụ: Dấu đùi cừu (Gigot de mouton) trong lao  hớp háng, khớp hình thoi trong lao khớp gối.

Hạn chế vận động khớp, rất đau khi ấn và vận động

Hạch rõ, dính, đau khi ấn.

Có áp - xe lạnh lan đi xa.

X quang: Loãng xương, khe khớp hẹp, bờ khớp nham nhở hoặc khuyết, xương tù, không có phản ứng tạo xương.

Khi bị rò hình ảnh lao khó phân biệt với viêm xương.

Có thể trật khớp háng, biến dạng xương, gãy xương bệnh lý.

Giai đoạn ổn định(tái tạo) nhưng không khỏi

Các triệu chứng giảm bớt.

Ăn ngủ được, lên cân.

Đỡ đau tại chỗ, nếu đã có di chứng biến dạng để lại thì không thể hết (ví dụ  liệt, rò...).

X quang: Bè xương rõ ra, hết loãng xương, có tái tạo xương không thể phục hồi lại mặt khớp cũng như các  biến chứng dính cứng khớp.

Do vậy cần chẩn đoán sớm ở giai đoạn đầu thì điều trị lao mới hy vọng phục hồi.

Tiến triển lao thường gây rò và bội nhiễm, có nhiều trường hợp bệnh đã khỏi về lâm sàng và X quang nhưng sau lại tái phát do mủ bã đậu còn chứa vi khuẩn lao.

Nguyên tắc điều trị

Cần điều trị toàn thân và tại chỗ

Điều trị toàn thân

Nâng cao thể trạng.

Thuốc kháng  lao: Cần dùng liên tục và đủ thời gian và phối hợp nhiều loại thuốc.

Thường dùng:

INH 5mg/kg/ngày với người lớn; 10mg/kg/ngày với trẻ.

Rifamycin 10mg/kg/ngày với người lớn; 15mg/kg/ngày với trẻ.

Ethambutol 15mg/kg/ngày.

Uống một lần buổi sáng trước khi  ăn 30 phút, dùng trong 18 tháng. Kiểm tra chức  năng gan, thần kinh mắt để đề phòng các biến chứng do thuốc.

Có thể dùng P.A.S, Streptomycin.

Điều trị tại chỗ

Bất động vùng lao là biện pháp căn bản để tránh kích thích cơ học và giúp cơ thể chống nhiễm trùng thuận lợi. Đối với các trường hợp xương đã bị phá hủy cần bất động dài hơn đủ để dính khớp.

Song song điều trị nội khoa cần mổ lấy bỏ ổ lao vì không thể chắc không bị tái  phát, đồng thời phá hàng rào bao bọc giúp thuốc kháng lao có tác dụng, cần phẫu thuật sau 3-4 tuần điều trị nội khoa.

Có thể rạch tháo dẫn lưu áp - xe lạnh khi đã dùng thuốc điều trị nội khoa.

Khi có biến chứng (liệt, vẹo...) cần phẫu thuật.

Dự phòng

Giáo dục cho cộng đồng đến các tuyến y tế cơ sở để điều trị đúng các bệnh lao: lao phổi, lao xương...

Tuyên truyền chống lao trong cộng đồng.

Điều trị sớm các ổ nhiễm trùng ngoài da.

Phát hiện sớm các triệu chứng của viêm xương.


Bài mới nhất

Lâm sàng và điều trị thời kỳ suy mòn của bệnh bỏng

Nếu tính cả thải Protein qua phân, nước tiểu... mất Protein có thể đạt tới 100-200g/24h. Bỏng sâu mất Protein qua vết bỏng đạt 10mg/cm2/24h.

Công tác thay băng điều trị bỏng

Sau khi thay băng cho một bệnh nhân, phải ngâm rửa lại tay, mỗi bệnh nhân phải dùng khẩu phần thay băng riêng để tránh lây chéo.

Bệnh học bỏng trẻ em

Tính diện tích bỏng dựa theo bảng của Lund và Browder hoặc của Berkow chia bề mặt  các phần cơ thể thành các đơn vị diện tích phù hợp với tuổi nhằm giúp chẩn đoán chính xác diện tích bỏng.

Bệnh học bỏng hóa chất

Trong quân đội và trong chiến tranh còn bị bỏng  do các nhiên kiệu lỏng của tên lửa và các hoá chất quân sự gây loét rộp da

Bệnh học bỏng điện

Tổn thương do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể bao gồm: tổn thương tại chỗ và tổn thương toàn thân. Sét đánh cũng là một hiện tượng bỏng điện có hiệu thế cao hàng triệu von

Bài xem nhiều nhất

Bệnh học ngoại khoa viêm ruột thừa cấp

Dấu hiệu đau thực thể kinh điển ở hố chậu phải chỉ có khi ruột thừa bị viêm nằm ở vị trí phía trước. Cảm giác đau thường nhiều nhất ngay ở điểm đau  Mac Burney hoặc gần với điểm Mac  Burney.

Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn

Thoát vị nói chung gặp trong khoảng 5% dân số thế giới. Trong đó thoát vị bẹn chiếm khoảng 80% trong tổng số các loại thoát vị. Trong thoát vị bẹn, nam giới bị gấp 7-8 lần nữ giới.

Bệnh học ngoại chấn thương cột sống

Đối với các đoạn lưng nhất là đoạn ngang khoanh tủy sống lưng thứ tư tuần hoàn rất nghèo nàn các thương tổn ở đây rất trầm trọng

Bệnh học ngoại chấn thương sọ não kín

Ngoài màng cứng, dưới màng cứng và trong não hoặc phối hợp các loại máu tụ trên cùng một bệnh nhân

Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng

Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp.

Bệnh học ngoại gẫy hai xương cẳng tay

Kéo theo trục cẳng tay với lực kéo liên tục và tăng dần, đến khi hết  di lệch chồng thì nắn các di  lệch sang bên, gập góc còn lại

Bệnh học ngoại khoa tắc ruột

Tắc ruột do liệt ruột gặp trong các trường hợp: sỏi  tiết niệu, chấn thương cột  sống hoặc khung chậu (tụ máu sau phúc mạc), viêm phúc mạc, viêm phúc mạc mật, tràn dịch tiêu hóa hoặc dịch tụy trong ổ phúc mạc.

Bệnh học ngoại gẫy xương cẳng chân

Rối loạn muộn sau tháo bột thường thấy bàn chân sưng nề, da khô, đau, Để đề phòng cần tập vận động sớm và chống huyết khối ở bệnh nhân nằm lâu

Bệnh học ngoại khoa thủng dạ dày tá tràng

Thường chỉ một lỗ, rất ít khi 2 hay nhiều lỗ. Có thể thủng ở một ổ loét non  hay ở một ổ loét chai cứng. Có thể ở một ổ loét đã được khâu lần trước hay một ổ loét ở miệng nối.

Bệnh học ngoại gẫy thân xương đùi

Vị trí gãy ở vùng 5cm dưới mấu chuyển bé. Đây là vị trí gãy có nhiều di lệch phức tạp do sự co kéo mạnh của các khối cơ theo nhiều hướng khác nhau ở đầu trên xương đùi.