Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn

2012-10-16 11:00 AM

Thoát vị là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài ổ phúc mạc trong một túi thừa phúc mạc gọi là “túi thoát vị”, qua các điểm yếu tự nhiên của thành bụng. Các điểm yếu này có thể là bẩm sinh hay mắc phải.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Định nghĩa

Thoát vị là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài ổ phúc mạc trong một túi thừa phúc mạc gọi là “túi thoát vị”, qua các điểm yếu tự nhiên của thành bụng. Các điểm yếu này có thể là bẩm sinh hay mắc phải.

Định nghĩa này cho phép loại đi bệnh cảnh thường được gọi trước đây là “thoát vị đường mổ” mà thực chất chỉ là tình trạng sổ thành bụng (eventration).

Thoát vị bẹn là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài qua điểm yếu ở thành sau của ống bẹn.

Thoát vị nói chung gặp trong khoảng 5% dân số thế giới. Trong đó thoát vị bẹn chiếm khoảng 80% trong tổng số các loại thoát vị. Trong thoát vị bẹn, nam giới bị gấp 7-8 lần nữ giới.

Phân loại

Có nhiều cách phân loại thoát vị và nhiều thuật ngữ khác nhau:

Theo định khu: Thoát vị bẹn, thoát vị đùi, thoát vị rốn, thoát vị qua tam giác thắt lưng.

Theo nguyên nhân: Thoát vị bẩm sinh, thoát vị mắc phải.

Theo tính chất: Thoát vị ngẹt, thoát vị đẩy lên được, thoát vị cầm tù.

Thoát vị nội:  Tạng thoát vị chui qua điểm yếu bên trong ổ phúc mạc và không nhìn thấy từ bên ngoài được, như thoát vị qua khe Winslow, qua lỗ bịt, qua lỗ cơ hoành, qua khe thực quản.

Giải phẫu bệnh

Có 3 yếu tố giải phẫu tạo nên tất  cả các loại thoát vị.

Đường đi

Các tạng thoát vị luôn luôn đi qua điểm yếu của  thành bụng, có thể chỉ là một lỗ đơn thuần (thoát vị rốn), hay một ống thật sự như trong thoát vị bẹn gián tiếp.

Túi thoát vị

Là một túi thừa phúc mạc, bên ngoài được bao phủ bởi các tổ chức như cân cơ, mỡ, mô dưới da. Túi  bao gồm một cuống hay còn gọi là cổ túi thoát vị, một thân và một đáy. Tuy nhiên tùy loại thoát vị mà các thành phần này có rõ ràng hay không.

Tạng thoát vị

Thường là các tạng trong ổ phúc mạc như ruột, mạc nối lớn, phần phụ. Hiếm khi có thể thấy các tạng ngoài phúc mạc như bàng quang, mỡ.

Giải phẫu vùng bẹn

Vùng bẹn được quy ước là khu vực gồm phần thấp của hố chậu và hạ vị mỗi  bên, nằm trên nếp lằn bẹn.

Bệnh lý của vùng bẹn chủ yếu là thoát vị bẹn, không những thể hiện triệu chứng ở vùng bẹn mà còn ở bộ phận sinh dục ngoài (bìu hay môi lớn) và cả ở đùi. Vì vậy mà bìu, môi lớn được xem như một liên quan mở rộng của  vùng bẹn.

Cấu trúc giải phẫu chủ yếu ở vùng bẹn là ống bẹn. Ống bẹn gồm 4 thành và 2 lỗ:

Thành trước: Là tận cùng của cân cơ chéo bụng ngoài với các cột  trụ ngoài và trong.

Thành sau: Phức tạp, gồm có các phần ở sau cân cơ của thành bụng, trong đó đáng  chú ý là mạc ngang.

Thành trên: Gồm các thớ cơ thấp nhất của cơ chéo bụng trong và cơ ngang, xuống thấp tạo thành liềm bẹn hay gân kết hợp.

Thành dưới: là cung đùi gồm các thớ cân của cơ chéo bụng ngoài cuốn chung quanh dây bẹn ngoài Hence từ trườc ra sau và từ ngoài vào trong làm thành một cấu trúc hình máng hướng lên trên.

Dây chằng bẹn phân chia ống bẹn ở trên và vòng đùi ở phía dưới.

Lỗ bẹn nông: Ở mức gai mu, nằm giữa cột  trụ ngoài và cột trụ trong.

Lỗ bẹn sâu: Nằm ở phía trên trung điểm của nếp bẹn khoảng 1,5-2cm.

Ở nam, ống  bẹn là đường đi của tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trong thời kỳ  phôi  thai vào tuần thứ 12 cuối  thai kỳ. Tinh hoàn xuống bìu kéo theo phúc mạc tạo thành ống phúc tinh mạc. Sau khi tinh hoàn đã xuống bìu, ống bẹn sẽ chứa thừng  tinh, còn ống phúc tinh mạc sẽ bít lại tạo thành dây chằng Cloquet. Còn ở nữ, ống bẹn chứa dây chằng tròn.

Mặt trong của vùng bẹn có động mạch thượng vị dưới, thừng động mạch rốn và dây treo bàng  quang đội vào phúc mạc tạo nên các nếp nhô và chia vùng bẹn ra thành 3 hố  bẹn:

Hố bẹn ngoài: Nằm ngoài động mạch thượng vị  dưới, là nơi  xảy  ra thoát vị bẹn chéo ngoài gián tiếp.

Hố bẹn giữa: Nằm giữa động mạch thượng vị dưới và thừng động mạch rốn, là nơi xảy ra thoát vị bẹn trực tiếp.

Hố bẹn trong: Nằm giữa thừng động mạch rốn và dây treo bàng quang, là nơi xảy ra thoát vị bẹn chéo trong, rất hiếm gặp.

Nguyên nhân và sinh lý bệnh

Cho đến nay, nguyên nhân tại sao chỉ có một số người bị thoát vị bẹn, đối với thoát vị bẹn  thể trực tiếp, vẫn chưa được biết rõ. Riêng đối với thoát vị bẹn thể gián tiếp, tồn tại  ống phúc tinh mạc được xem là nguyên nhân chủ đạo.  Mặc dù, trong một số  không ít  trường hợp, không có thoát vị bẹn dù tồn tại ống phúc tinh mạc. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu đáp ứng của vòng bẹn trong đối với sự gia tăng áp lực trong ổ phúc mạc. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, lỗ bẹn sâu có tác dụng như một cấu trúc dạng van, có vai  trò ngăn cản không cho các tạng chui qua lỗ bẹn sâu khi  có tăng áp lực đột ngột như khi ho, rặn ... Trong thoát vị bẹn gián tiếp, chức năng này bị suy  yếu hay hầu như mất  hẳn.

Đối với thoát vị bẹn  trực tiếp, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các biến loạn về chuyển  hóa và sinh hóa đóng vai trò quan trọng trong hình thành mà đặc biệt là khả năng tái  phát. Trong đó nổi bật  là vai trò của các sợi collagen. Ở các bệnh  nhân bị thoát vị bẹn  trực tiếp, người ta ghi nhận sự giảm tạo collagen, giảm hàm  lượng collagen và giảm trọng lượng các sợi collagen. Tuy nhiên bản chất của  quá trình này vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ.

Phân loại thoát vị bẹn

Theo vị trí giải phẫu

Thoát vị bẹn chéo ngoài: Đa số là thoát vị bẩm sinh, tạng chui ra ngoài  qua hố bẹn ngoài,  vào ống phúc tinh mạc để xuống bìu. Túi thoát vị nằm trong bao xơ thừng tinh.

Thoát vị bẹn trực tiếp: Đa số là thoát vị mắc phải, tạng chui ra ngoài đi qua hố  bẹn giữa. Túi thoát vị nằm ngoài bao xơ thừng tinh.

Thoát vị bẹn chéo trong: tạng chui ra ở hố bẹn trong, rất hiếm gặp.

Theo nguyên nhân

Thoát vị bẩm sinh: Do tồn tại  ống phúc tinh mạc, là thoát vị chéo ngoài và thường gặp ở trẻ em.

Thoát vị mắc phải: Do yếu cân cơ thành bụng, thường gặp ở người già, tạng chui ra ở hố bẹn giữa.

Theo tiến triển

Thoát vị chỏm: Tạng mới vừa chui qua khỏi lỗ bẹn sâu.

Thoát vị kẽ: Tạng chui ra khỏi lỗ bẹn sâu và nằm trong ống bẹn.

Thoát vị bẹn-mu: Tạng chui ra nằm ở gốc dương vật.

Thoát vị bẹn-bìu: Tạng thoát vị xuống đến bìu.

Triệu chứng

Cơ năng

Hỏi lý do vào viện: Thường có 2 lý do chính khiến bệnh nhân vào viện, đau tức ở vùng bẹn bìu hoặc khối phồng ở vùng bẹn bìu.

Hỏi hoàn cảnh xuất hiện của triệu chứng vừa hỏi được: Từ sau sinh, mới xuất   hiện trong thời gian gần đây, sau khi khuân vác nặng hay chạy nhảy nhiều.

Triệu chứng khác kèm theo như táo bón, tiểu khó, đại tiện ra máu (trĩ).

Thực thể

Nhìn:

Triệu chứng tìm thấy chủ yếu là khối phồng với các tính chất của nó như nằm trên nếp lằn  bẹn, chạy dọc theo chiều của ống bẹn từ trước ra sau và từ trên  xuống dưới, từ ngoài vào trong. Khối phồng thay đổi kích thước theo tư thế và khi làm các nghiệm pháp tăng áp lực ổ bụng như ho, rặn....

Nếu là thoát vị bẹn-bìu thì thấy  bìu lớn bất thường.

Sờ:

Là động tác quan trọng nhất trong khám thoát vị bẹn.

Khối phồng vùng bẹn: Cổ nằm trên nếp lằn bẹn, không đau nếu chưa có biến chứng, tăng kích thước khi  tăng áp lực ổ bụng. Nếu tạng thoát vị là quai ruột thi sờ có cảm giác lọc xọc, sờ cảm giác chắc nếu tạng thoát vị là mạc nối.

Lỗ bẹn nông rộng.

Một số nghiệm pháp thường dùng trong chẩn đoán thoát vị bẹn:

“Chạm ngón”: Dùng  ngón tay đội da bìu đi ngược lên vào lỗ bẹn nông, ước lượng khẩu kính của nó. Tiếp đó quay áp mặt múp của ngón vào thành sau ống bẹn rối bảo bệnh nhân ho mạnh. Đón nhận cảm  giác chạm túi thoát vị vào ngón tay, nếu ở đầu ngón là thoát vị bẹn  thể gián tiếp, nếu ở mặt múp ngón là thoát vị bẹn trực tiếp.

“Thủ  thuật Zieman”: Dùng 3 ngón tay để xác định loại thoát vị. Khám bên nào  thì dùng bàn tay bên đó: Ngón trỏ ở nếp bụng-mu thấp, ngón giữa theo nếp  bẹn còn ngón nhẫn ở hõm bầu dục ở đáy tam giác Scarpa. Rồi bảo bệnh nhân ho mạnh: Nếu cảm  giác chạm ở ngón trỏ là thoát vị bẹn trực tiếp, nếu ở ngón giữa là thoát vị bẹn gián tiếp còn  nếu ở ngón nhẫn là thoát vị đùi.

Ngoài  ra còn có một số nghiệm pháp khác như nghiệm pháp lăn thừng tinh của Ladd (rolling test), dấu hiệu cọ xát của  lụa...

Soi đèn:

Soi bằng đèn bấm, trong phòng tối. Soi từng bên bìu và so sánh với bên đối diện. Trong trường hợp tràn dịch màng tinh hoàn, tràn dịch ống Nuck hay nang nước thừng tinh, nang ống Nuck thì có hiện tượng thấu sáng. Trong trường hợp thoát vị bẹn thì giảm sáng so với bên đối diện.

Siêu âm:

Nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của siêu âm trong chẩn đoán thoát vị. Siêu âm cho thấy hình ảnh của các quai ruột hay mạc nối bên trong khối phồng.

Đôi khi siêu âm còn cho phép đo được đường kính lỗ bẹn sâu.

Nội soi ổ bụng:

Cho phép thấy được lỗ bẹn sâu rộng, tạng thoát vị chui qua lỗ bẹn sâu.

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng.

Siêu âm.

Nội soi ổ bụng.

Chẩn đoán phân biệt

Tràn dịch màng tinh hoàn

Da bìu căng.

Lỗ bẹn nông không rộng.

Không sờ được tạng trong túi thoát vị.

Soi đèn.

Siêu âm.

Nang nước thừng tinh

Lỗ bẹn nông.

Siêu âm.

Dãn tĩnh mạch thừng tinh

Lỗ bẹn nông.

Sờ cảm giác như búi giun.

Siêu âm.

Phân biệt thoát vị bẹn trực tiếp và gián tiếp

Tuổi.

Tiền sử, bệnh sử.

Nghiệm  pháp “chạm ngón”

Phân biệt thoát vị bẹn nghẹt với xoắn tinh hoàn

Nếu là xoắn tinh hoàn thì:

Tiền sử không có thoát vị bẹn.

Da bìu có thể nề đỏ.

Tinh hoàn bên bị xoắn lên cao hơn bình thường.

Các nghiệm  pháp.

Siêu âm, Doppler.

Tiến triển

Nếu không được điều trị kịp thời thì thoát vị ngày càng to và thành bụng ngày  càng yếu, khả năng phục hồi thành bụng càng khó và dễ tái phát.

Một số biến chứng thường gặp:

Nghẹt: Triệu chứng sớm nhất là đau ở cổ túi thoát vị. Nếu tạng thoát vị là quai ruột thì bệnh nhân có các triệu chứng của tắc ruột. Trường hợp chỉ nghẹt một thành của quai ruột, bệnh nhân không có các triệu chứng của tắc ruột nhưng rất dễ gây thủng ruột và viêm phúc mạc, được gọi là thoát vị của  Rickter.

Viêm dính tạng thoát vị với bao thoát vị.

Chấn thương khối thoát vị làm thương tổn tạng bên trong.

Điều trị

Nguyên tắc là điều trị ngoại khoa. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tuổi và tình trạng  toàn thân của  bệnh nhân mà có chỉ định can thiệp ngoại khoa hay không và nếu có thì nên can thiệp ngoại khoa khi nào.

Trẻ em

Vấn đề băng treo bìu:

Không có chỉ định trong điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em.  Nếu như chưa can thiệp phẫu thuật vì một lý do gì đó (tuổi,  bệnh lý kèm theo.. ..) thì chỉ nên theo dõi. Việc băng treo bìu hay băng ép vùng bẹn sẽ ảnh hưởng đến  sự trưởng thành cũng như chức năng của tinh hoàn sau này.

Phẫu thuật:

Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi: Theo dõi cho đến 1 tuổi, nếu không tự khỏi thì mổ, ngoại trừ khi có biến chứng.

Trẻ trên 1 tuổi: Mổ thắt cao túi thoát vị (ống phúc tinh mạc), không cần tái tạo thành bụng.

Người trưởng thành

Vấn đề băng treo bìu có thể áp dụng cho những người quá già yếu, hay bệnh  lý nội khoa nặng nề, không có chỉ định phẫu thuật. Phương pháp này chống chỉ định khi cổ túi thoát vị nhỏ và đôi khi nó có thể làm cho một trường hợp thoát vị không nghẹt nhưng “cầm tù” trở nên nghẹt.

Phẫu thuật: Nhằm 2 mục đích.

Khâu cổ túi và cắt bỏ túi thoát vị

Tái tạo thành bụng.

Các phương pháp phục hồi thành bụng trước thừng tinh: ít dùng.

Các phương pháp phục hồi thành bụng sau thừng tinh: Bassini, Shouldice.

Đặt tấm nhân tạo (Prothèse).

Mổ nội soi trước phúc mạc hay trong phúc mạc.

Bài viết cùng chuyên mục

Bệnh học ngoại u xương

Ung thư xương là khối u ác tính xuất phát từ các tế bào của xương, trong đó hay gặp nhất là ung thư liên kết tạo xương và tạo sụn. Đây là loại ung thư thường gặp ở thiếu niên và thanh niên trẻ.

Bệnh học ngoại vết thương ngực

Các rối loạn hô hấp tuần hoàn trong vết thương ngực hở do hậu quả hô  hấp  đảo ngược và lắc lư trung thất dẫn đến thiếu O2 trầm trọng, tình trạng toàn thân của bệnh nhân thay đổi nhanh chóng.

Bệnh học ngoại khoa thoát vị đùi

Khi lỗ thoát vị đùi ở vị trí này phải chú ý: Phía ngoài cổ túi có tĩnh mạch đùi và phía trên cổ túi có động mạch thượng vị và nhánh nối động mạch thượng vị với mạch bịt.

Bệnh học bỏng điện

Bỏng điện thường sâu, tổn thương tại chỗ biểu hiện ở điểm vào và ra của luồng điện, vị trí thường gặp là bàn tay, bàn chân. ở trẻ em có thể bỏng miệng, môi, lưỡi do ngậm vào cực điện.

Bệnh học ngoại gãy trên lồi cầu xương cánh tay

Gãy trên lồi cầu đứng thứ mười trong các loại gãy xương ở trẻ con nói chung, thường tỷ lệ biến chứng cao hơn so với các gãy chi khác, hay gặp di chứng vẹo khuỷu vào trong

Bệnh học ngoại gẫy xương cẳng chân

Gãy xương cẳng chân là các trường hợp gãy thân xương chày từ dưới hai lồi cầu đến trên mắt cá trong, có hoặc không kèm gãy xương mác từ cổ tới trên mắt cá ngoài.

Hội chứng Dumping trong phẫu thuật dạ dày

Hội chứng Dumping là một nhóm các triệu chứng có thể xảy ra nếu bn có phẫu thuật để cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần của dạ dày, hoặc nếu dạ dày của bệnh nhân đã được phẫu thuật nối tắt để giúp giảm cân.

Bệnh học ngoại gẫy xương hở

Gãy xương hở do nhiều nguyên nhân và chiếm hàng đầu là tai nạn lưu thông do các loại xe mô tô và ô tô. Trong thời bình tỷ lệ gãy xương hở chiếm khoảng 8-10% các tổn thương cơ quan vận động.

Bệnh học ngoại gẫy cổ xương đùi

Gãy cổ xương  đùi là các trường hợp gãy xương mà đường gãy là ở giữa chỏm và khối mấu chuyển. Thường gặp đối với người già, cho dù là một chấn thương nhẹ (như té đập mông). Rất hiếm gặp ở người trẻ và trẻ em.

Bệnh học ngoại chấn thương niệu đạo

Khi dương vật mềm, niệu đạo dài khoảng 16cm, trong đó, đoạn tiền liệt tuyến dài khoảng 2,5-3cm, đoạn màng khoảng 1,2cm và đoạn xốp khoảng 12cm.

Bệnh học ngoại khoa bỏng

Bỏng là một chấn thương gặp trong cả thời bình và thời chiến. Trong chiến tranh tỷ lệ bỏng chiếm từ 3-10% tổng số người bị thương. Ở Mỹ một năm theo báo cáo có hơn 2 triệu người bị bỏng, trong đó khoảng 100.000 người phải nhập viện

Bệnh học ngoại khoa ung thư đại tràng

Ung thư đại  tràng là loại ung thư hay gặp đứng  hàng  thứ hai trong các  loại ung thư đường  tiêu hoá  và  là  một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong  do ung thư nói  chung.

Bệnh học ngoại khoa tắc ruột

Tắc ruột do liệt ruột gặp trong các trường hợp: sỏi tiết niệu, chấn thương cột sống hoặc khung chậu (tụ máu sau phúc mạc), viêm phúc mạc, viêm phúc mạc mật, tràn dịch tiêu hóa hoặc dịch tụy trong ổ phúc mạc.

Bệnh học ngoại trật khớp háng

Ở người lớn trật khớp háng do chấn thương mạnh xảy ra do một lực tác động gián tiếp vào đầu dưới xương đùi, và vùng gối khi đùi gấp, xoay trong và khép, khớp gối ở tư thế gấp.

Bệnh học ngoại phình động mạch ngoại biên

Phình động mạch ngoại biên thường ít hơn phình động mạch chủ. Có nhiều nguyên nhân gây phình động mạch ngoại biên, trong đó nguyên nhân do xơ vữa động mạch thường gặp nhất.

Bệnh học ngoại khoa vết thương thấu bụng

Thực tế khi có vết thương trực tiếp vào thành bụng mà không xuất hiện hội chứng mất máu cấp tính hoặc hội chứng viêm phúc mạc, chúng ta chỉ cần mở rộng thăm dò tổn thương thành bụng.

Bệnh học ngoại tắc ruột sơ sinh

Tắc ruột sơ sinh là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp trong lĩnh vực ngoại nhi. Bệnh thường xảy ra trong 15 ngày đầu của đời sống. Bệnh liên quan mật thiết đến các ngành sản khoa và nhi khoa.

Bệnh học ngoại chấn thương cột sống

Chấn thương cột sống nói chung chiếm khoảng 4-6% so với tất cả các chấn  thương. Trong thực tế khám chấn thương cột sống là khám  tổn thương ở đốt sống, đĩa đệm, dây chằng.

Chẩn đoán độ sâu của tổn thương bỏng

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán diện tích, độ sâu của tổn thương bỏng, cùng với sự phát triên khoa học và công nghệ. Trong phạm vi bài giảng, chỉ đề cập những phương pháp cơ bản, dễ áp dụng trong thực tế.

Lâm sàng và điều trị thời kỳ suy mòn của bệnh bỏng

Nếu tính cả thải Protein qua phân, nước tiểu... mất Protein có thể đạt tới 100-200g/24h. Bỏng sâu mất Protein qua vết bỏng đạt 10mg/cm2/24h.

Bệnh học ngoại nhiễm khuẩn tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu không đặc hiệu (Non- specific infection) là loại nhiễm khuẩn thường gặp của đường tiết niệu do các loại trực khuẩn gram (-) hoặc cầu khuẩn gram (+) gây nên.

Bệnh học ngoại khoa xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hoá được định nghĩa là sự đào thải qua đường miệng và hay là qua đường đường hậu môn một số lượng máu từ các thương tổn của  đường tiêu hoá.

Bệnh học ngoại lao xương

Lao xương giống viêm xương là hay gây tổn thương ở người trẻ, nhưng khác viêm xương, tổn thương của lao thường bắt đầu ở xương xốp sau đó lan ra xung quanh.

Bệnh học ngoại khoa thủng dạ dày tá tràng

Thủng ổ loét dạ dày - tá tràng là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Chẩn đoán thường dễ vì trong đa số trường hợp các  triệu chứng khá điển hình, rõ rệt.

Bệnh học ngoại viêm xương

Viêm xương có thể tự nhiên, nhưng chấn thương đóng vai trò nào đó của sự khu trú tắc mạch xương trên một cơ quan bị nhiễm khuẩn.