Chiều dài chức năng chân không tương ứng: cơ chế triệu chứng

2020-05-12 12:16 AM

Một chân dài hơn rõ ràng, hoặc chức năng bất bình đẳng, có thể xảy ra ở bất kỳ điểm nào, từ hồi tràng đến mép thấp nhất của bàn chân, cho một số lý do.

Khi đo từ rốn đến mắt cá trong mỗi chân, có sự chênh lệch giữa hai chân. Kỹ thuật đo mô tả sự bất đối xứng đơn phương của chi dưới mà không có bất kỳ sự co ngắn đồng thời (xương) hay các thành phần của xương chi dưới.

Hình. Đo chiều dài chân

A. Chiều dài của chân rõ ràng là khoảng cách từ rốn đến mắt cá trong. B. Nghiêng chậu gây ra một sự chênh lệch chân dài

Đo chiều dài chân

Nguyên nhân

Biến dạng cơ chân.

Co ngắn thích ứng của các mô mềm.

Co ngắn từng đoạn.

Lỏng lẻo dây chằng.

Lệch trục.

Cơ chế

Một chân dài hơn rõ ràng hoặc chức năng bất bình đẳng có thể xảy ra ở bất kỳ điểm nào từ hồi tràng đến mép thấp nhất của bàn chân cho một số lý do.

Lỏng lẻo dây chằng

Trong tình huống này, các xương có chiều dài tương tự. Tuy nhiên, các dây chằng ở một bên (ví dụ: trong khớp hông) có thể kéo dài hơn hoặc lâu hơn các dây chằng còn lại của họ trên phía đối diện, làm cho xương đùi thấp hơn trong các động tác ngồi gấp và xuất hiện còn về đo lường.

Co khe khớp

Co khe khớp tạo độ cứng và không cho phép hoạt động đầy đủ. Nếu khớp gối được giữ ở vị trí gấp, các bên bị ảnh hưởng sẽ không bị kéo dài như là phía đối diện ngay cả khi ở một vị trí hoàn toàn mở rộng.

Thay đổi bàn chân cơ học

Quay sấp quá mức của các chân về phía trong và / hoặc có thể được kèm theo một chiều cao vòm giảm so với chân ‘bình thường’, kết quả một trong hay chân chiều dài chức năng ngắn hơn

Ý nghĩa

Trong bất bình đẳng chiều dài thực của chân, thay đổi đáng kể trong chủ yếu lâm sàng không đặc hiệu khác biệt và độ chính xác trong đo lường lâm sàng đã được báo cáo. Do đó, nó có giá trị giới hạn như một xét nghiệm chẩn đoán hoặc tiên lượng. Nếu có là trọng yếu không thể thay đổi trong chiều dài chân (> 2 cm) cùng với các dấu hiệu lâm sàng, củng cố thêm việc kiểm tra.

Bài xem nhiều nhất

  • Hội chứng tắc ruột

  • Tắc ruột là một cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp trong cấp cứu ổ bụng, chỉ đứng sau viêm ruột thừa, Có rất nhiều nguyên nhân gây tắc ruột khác nhau

  • Triệu chứng gãy xương

  • Các xương nối với nhau qua các khớp, làm chỗ dựa vững chắc cho các cơ hoạt động, Hai đầu xương dài là nguyên uỷ và bám tận của các cơ, khi bị kích thích hoặc do thần kinh chỉ huy.

  • Cách khám ngoại khoa bụng

  • Khám bệnh phải được xây dựng thành một trình tự logic để thành một thói quen và nhờ thói quen này mà người thày thuốc giỏi ít khi bỏ sót dấu hiệu

  • Hội chứng tắc mật

  • Vi khuẩn có thể xấm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn máu, đây là giai đoạn rất nặng của tắc mật, nguy cơ tử vong cao, Tắc mật lâu ngày dẫn đến xơ hoá khoảng cửa

  • Khám chi trên chi dưới

  • Trường hợp đứt dây chằng chéo trước sẽ thấy xương chày nhô ra phía trước và khi đứt dây chắng chéo sau thì xương chày tụt ra sau.

  • Triệu chứng trật khớp

  • Bao hoạt dịch tiết ra dịch khớp có nhiệm vụ nuôi sụn khớp và bôi trơn mặt khớp, đồng thời ngăn ngừa nhiễm trùng khớp.

  • Khám cột sống

  • Cột sống chứa tuỷ sống, thần kinh trung ương, trong ống sống và cho ra các rễ thần kinh qua lỗ liên sống để chi phối các hoạt động của cơ thể

  • Đại cương về bỏng

  • Đến 80 % tổng số bệnh nhân là bỏng nông trên diện hẹp, chiếm dưới 20 phần trăm diện tích da của cơ thể, Đối với loại bỏng này, điều trị rất đơn giản

  • Phương pháp, triệu chứng, biến chứng gây mê, gây tê

  • Gây mê là phương pháp điều trị đặc biệt, nó làm cho bệnh nhân ngủ, không gây đau, không lo sợ, không nhớ gì về cuộc mổ

  • Khám chấn thương, vết thương ngực

  • Chấn thương, vết thương ngực là một nhóm cấp cứu ngoại khoa thường gặp tuỳ theo cơ sở ngoại khoa, chiếm khoảng 10, 15 phần trăm