Ngũ linh tán

2013-04-30 08:16 PM

Trư linh, Phục linh, Trạch tả lợi thủy thảm thấp, Bạch truật kiện tỳ vận hóa thấp khiến thủy thấp, không đình tụ được. Quế chi tân ôn thông dương giúp bàng quang khí hóa.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Thành phần

1.  Bạch truật                                     8-12 gam.

2.  Quế chi (hoặc Nhục quế)         4-8 gam.

3.  Trư linh                                         12-16 gam.

4.  Trạch tả                                        12-16 gam.

5.  Phục linh                                     12-20 gam.

Cách dùng

Nguyên là thuốc bột mỗi lần 8-12 gam ngày 2 lần uống lúc đói với nước chín âm ấm. Công dụng: Thông dương, hóa khí, lợi thủy.

Chủ trị

Thủy thấp đình tụ, tiểu tiện bất lợi, thủy thũng, rêu lưỡi hoạt nhuận hoặc có ngực tức, khát muốn uống, nhưng uống vào nôn ngay.

Giải bài thuốc

Trư linh, Phục linh, Trạch tả lợi thủy thảm thấp, Bạch truật kiện tỳ vận hóa thấp khiến thủy thấp, không đình tụ được. Quế chi tân ôn thông dương giúp bàng quang khí hóa. Khí đã hóa thì thủy phải hành và giúp cho các vị thuốc thảm thấp lợi thủy phát huy tác dụng. Vì thế đây là phương tễ chủ yếu lấy sự lợi tiểu mà tiêu trừ được thấp tà.

Gia giảm

Phương này bỏ Quế chi gọi là Tứ linh thang là loại thuốc kiện tỳ thảm thấp, để chữa chứng tỳ hư thấp trở, tiểu tiện xẻn, đại tiện nhão. Phương này gia Nhân trần gọi là Nhân trần ngũ linh tán, trị thấp nhiệt hoàng đản, tiểu tiện vàng đỏ, có tác dụng thoái hoàng lợi thủy. Phương này gia Đảng sâm gọi là Xuân trạch thang dùng chữa toàn thân khí hư tiểu tiện không thông thậm chí bế tiểu tiện nhất định hiệu quả. Ngoài ra khi chữa thủy thũng còn nên hợp bài này với bài ngũ bì ám thì sức lợi thủy tốt hơn.

Phụ phương

Trư linh thang:

Gồm Trư linh, Phục linh, Trạch tả, A giao, Hoạt thạch hợp thành.

Có công năng tư âm thanh nhiệt, lợi thủy, dùng chữa chứng huyết lâm, niệu huyết, tiểu tiện xẻn đỏ mà đau, lưỡi đỏ, miệng khát, tâm phiền của bệnh âm hư, cũng có tác dụng lợi thủy như bài Ngũ linh tán, nhưng ngũ linh có tác dụng trị dương khí bất thông, thủy thấp nội đình., còn Trư linh thang trị chứng nhiệt và thủy thấp câu kết mà hao tổn âm dịch, cho nên một mặt dùng nhị linh, Trạch tả, Quế chi, Bạch truật để thông dương hóa khí, lợi thủy, một đàng dùng nhị linh Trạch tả phối A giao Hoạt thạch tư âm thanh nhiệt mà lợi thủy.

Thông quan hoàn: (Tư thận hoàn)

Gồm Tri mẫu, Hoàng bá (sao muối), Nhục quế tạo thành.

Ngày uống 2 lần mỗi lần 12 gam lúc đói với nước chín.

Thuốc này có công năng thanh thấp nhiệt hạ tiêu, giúp bàng quang khí hóa. Do thấp nhiệt kết ở bàng quang bí đái không thông, bụng dưới chướng đầy, niệu đạo rít mà đau. Phương này dùng tri bá thanh thấp nhiệt hạ tiêu, sao muối để dẫn thuốc hạ hành, Nhục quế làm tá để trợ bàng quang khí hóa. Ngũ linh tán lấy quế chi hợp nhị linh Trạch tả để đạt mục đích thông dương thảm thấp mà lợi thủy. Còn phương này lấy Nhục quế hợp tri bá đạt mục đích thông dương giáng hỏa mà lợi thủy. Đúng là biến phương của Ngũ linh. Nếu tiểu tiện bất thông mà lại thương âm, lưỡi đỏ khô, khát muốn uống thì nên tư âm lợi thủy, hoặc tư âm giáng hỏa thì nên dùng Trư linh thang hoặc Tri bá địa hoàng thang, không nên vì cái tên “Tư thận” mà dùng lầm.

Bài viết cùng chuyên mục

Sài cát giải cơ thang

Bài này lấy Cát căn, Sài hồ để tân tán thanh nhiệt và lấy Khương hoạt để tân ôn phát biểu nhằm giải tỏa biểu tà để người và xương khỏi đau.

Cam lộ tiêu độc đan

Bài này dùng Hoắc hương, Khấn nhâm, Thạch xương bồ để hóa thấp, dùng Hoạt thạch, Nhân trần, Mộc thông để lợi thấp, dùng Hoàng cầm, Xạ can, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc.

Tiểu kế ẩm tử

Dùng Tiên sinh địa, Tiểu kế, Bồ hoàng, Ngẫu tiết, để lương huyết, chỉ huyết; Hoạt thạch, Mộc thông, Trúc diệp, Chi tử thanh nhiệt thông lâm.

Nội tiêu loa lịch hoàn

Bài này đặc điểm là tập trung hóa đàm, làm mềm chất rắn, tán kết để tiêu bướu, tràng nhạc, đàm hạch, các vị Hải táo, Chỉ xác, Kiết cánh, Bối mẫu, Liên kiều, Hải phấn, Huyền sâm.

Chích cam thảo thang

Bài này dùng Chích cam thảo, Nhân sâm để bổ ích tâm khí vì dùng nhiều Cam thảo nên gọi là Chích cam thảo thang. A giao.

Gia giảm biến hóa bài thuốc đông y

Nếu định lượng vị thuốc trong bài thuốc biến đổi lớn thì tác dụng chính cũng biến đổi theo. Ví như bài Chỉ truật thang và Chỉ truật hoàn cùng gồm 2 vị Chỉ thực và Bạch truật ghép nên.

Kiện tỳ ích khí thang

Bài này thường dùng trong lâm sàng là phương thuốc cơ sở của kiện tỳ ích khí, nhiều bài thuốc kiện tỳ bổ khí khác, thường từ đây mà biến hóa.

Phòng kỷ hoàng kỳ thang

Lâm sàng thường dùng phương này chữa bệnh thận viên mạn tính, có phù, nên gia thêm Ngũ linh tán hoặc Ngũ bì ẩm hợp dụng. Khí hư nhiều nên gia đảng hoặc nhân sâm.

Thanh nga hoàn

Bổ cốt chỉ tân khổ đại ôn, ôn thận tráng nguyên dương, Hồ đào nhục bổ mệnh môn hỏa, nạp thận khí.

Ôn tỳ thang

Bài này thực tế là Tứ nghịch gia Nhân sâm thang lại gia thêm Đại hoàng. Tứ nghịch gia Nhân sâm thang vốn dùng để ôn trung tán hàn, hồi dương cứu nghịch.

Ma hạnh thạch cam thang

Hạnh nhân, Cam thảo trợ Ma hoàng bình suyễn chỉ khái. Đó là phối hợp tân lương với tân ôn mà có phương này.

Tử tuyết đan

Chủ trị Ngoại cảm nhiệt bệnh, tráng nhiệt, phiền táo, môi se, hôn mê nói nhàm, kinh quyết co giật, dái đỏ, đại tiện bí, cho chí trẻ em sốt cao co giật.

Ma hoàng thang

Ma hoàng tân ôn phát biểu, tuyên phế, bình suyễn là chủ dược, phối với Quế chi ôn kinh tán hàn giúp Ma hoàng phát biểu.

Bổ dương hoàn ngũ thang

Hoàng kỳ dùng sống, lượng nhiều thì lực chuyên mà tính tẩu, đi khắp toàn thân, đại bổ nguyên khí mà chữa chứng này (mềm yếu) hợp với Quy vĩ, Xích thược, Địa long.

Tê giác địa hoàng thang

Bài này là bài thuốc tiêu biểu về lương huyết giải độc, nhiều bài thuốc khác nhằm thanh dinh, lương huyết, giải độc, cũng từ bài này mà biến hóa đi. Tê giác thanh tâm, lương huyết, giải độc.

Thấu nùng tán

Các loại ung thư nhọt độc đã thành mủ mà chưa vỡ tất phải dùng đến. Phương này lấy hai vị ấy làm thành phần chủ yếu để lập phương tễ thấu nùng.

Tam cao thang

Ma hoàng tân ôn phát tán, tuyên phế bình suyễn là chủ dược. Hạnh nhân giáng khí, nhuận phế, chỉ khái, giúp Ma hoàng bình suyễn.

Thiếu phúc trục ứ thang

Phương này lấy bài Thất tiếu tán (Bồ hoàng, Ngũ linh chi) phối ngũ với Khung, Quy làm chủ yếu, lại gia Huyền hồ.

Phân loại tác dụng bài thuốc đông y

Ngoài ra, còn có bài thông dụng và bài chuyên dụng như bài Kiện tỳ ích khí thang bổ khí, bài Tứ vật thang bổ huyết, Lục vị địa hoàng hoàn bổ âm, Quế phụ bát vị hoàn bổ dương đều là bài thông dụng, phạm vi sử dụng rất là rộng rãi.

Bổ trung ích khí thang

Bài này là phương thuốc tiêu biểu về thăng dương (thăng đề) ích khí. Hoàng kỳ, Nhân sâm là vị thuốc chủ yếu dùng để cam ôn ích khí.

Đại cáp thang

Thanh đại thanh can hỏa. Hải cáp xác (vỏ con sò bể) hóa nhiệt đờm. Hai vị phối ngũ trị chứng can hỏa phạm phế, dẫn đến ho nghịch khí suyễn nhất định hiệu quả.

Mộc hương binh lang hoàn

Bài này dùng Mộc hương, Binh lang, Hương phụ, Thanh bì, Trần bì, Chỉ xác để hành khí, lợi khí, phá khí, đạo trệ. Tam lăng.

Hoàng liên thang

Bài này là cách biến hóa của tiểu Sài hồ thang. Chủ trị chức năng tràng vị rối loạn, hàn nhiệt xen kẽ. Nhiệt thì ngực phiền nhiệt mà gây nôn, hàn thì bụng đau, bụng sôi mà đi tả.

Hầu tảo tán

Phương này dùng Hầu táo, Nguyệt thạch, Bối mẫu, Mông thạch để hóa đàm, linh dương giác tức phong, Xạ hương khai khiếu, Trầm hương giáng nghịch khí, dẫn đờm đi xuống.

Thân thống trục ứ thang

Phương này dùng Đào hồng Đương quy hoạt huyết hóa ứ. Ngũ linh chi, Địa long, khứ ứ thông lạc, Xuyên khung, Một dược hoạt huyết giảm đau; Khương hoạt, Tần giao trừ phong thấp của toàn thân; Hương phụ lý khí chỉ thống,.