Đởm đạo bài thạch thang

2013-05-20 10:58 AM

Bài này dùng Kim tiền thảo để tiêu sỏi lợi thấp, cùng với Nhân trần, Uất kim lợi đởm hiệp đồng bài sỏi ra ngoài.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Thành phần

1.  Kim tiền thảo       40 gam.

2.  Chi xác                 12 gam.

3.  Mộc hương          12 gam.

4.  Nhân trần             12 gam.

5.  Uất kim                 12 gam.

6.  Sinh đại hoàng   12 gam.

Cách dùng

Ngày dùng một thang, đun sắc chia 2 lần uống cũng có thể chế thành hoàn. Thuốc hoàn mỗi lần dùng 3 gam, sớm tối 1 lần, mỗi đợt điều trị một thang, nghỉ 1 tuần lại điều trị đợt 2.

Công dụng

Thanh nhiệt lợi thấp, hành khí chỉ thống lợi đởm bài sỏi.

Chữa chứng bệnh

Chữa chứng sỏi mật phát lên theo kỳ, thích hợp nhất với mấy trường hợp sau đây:

1. Ống mật có sỏi đường kính nhỏ hơn 1 ly.

2. Ống gan có sỏi 3, sau khi mổ xong còn sót lại sỏi.

Giải bài thuốc

Bài này dùng Kim tiền thảo để tiêu sỏi lợi thấp, cùng với Nhân trần, Uất kim lợi đởm hiệp đồng bài sỏi ra ngoài, Chỉ xác hành khí phá kết, Mộc hương điều khí chỉ thống, Đại hoàng tả hỏa thông tiện có lợi cho việc tiêu sỏi.

Bài thạch thang có 3 bài thuốc: Một bài là phương thuốc thực nghiệm ở bệnh viện Tôn Nghĩa gọi là Tam hoàng bài thạch thang gồm các vị Hoàng liên 8 gam, Hoàng cầm, Quảng Mộc hương, Chỉ xác, Sinh đại hoàng đều 12 gam, chữa sỏi ở ống mật do thấp nhiệt ôn kết lại biểu hiện dưới hông phải và bụng trên đau xoắn vào nhau, đưa tay ấn mạnh, đau chạy lên sống lưng, ngực đầy bụng buồn bực, nôn mửa, không muốn ăn, khát không muốn uống, đại tiện tích kết, vàng da gầy mòn, hơn nữa là gáy lạnh mà sốt, mặt mũi vàng, hạch huyền hoạt mà sác, rêu lưỡi vàng nhờn. Một bài khác tên là Đại bài thạch thang gồm các vị Sài hồ, Bạch thược, Quảng Mộc hương, Sinh đại hoàng (cho vào sau). Hoàng cầm, Chế bán hạ mỗi thứ 12 gam, Chỉ thực 16 gam, Hoàng liên 8 gam, Ngô thù du 4 gam, Mang tiêu 20 gam đến 40 gam, tức là Đại sài hồ thang gia tả kim hoàn, chữa kết sỏi ống mật thuộc dạng can uất khí trệ biểu hiện dưới hông phải hoặc vùng tim đau dẫn lên xương sống, ngực buồn bực đầy hơi kèm theo nôn mửa, miệng đắng họng khô, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc vàng, lưỡi tía nhạt, mạch huyền hoặc sác. Còn một bài nữa tên là Bài thạch thang số 6 (Phương thuốc thực nghiệm của bệnh viện Tôn Nghĩa gồm các vị Hổ trượng 40 gam (hoặc cây 3 gai 1 lạng), Mộc hương 20 gam, Chỉ xác 20 gam, Đại hoàng 20 gam, Kim tiền thảo 40 gam (hoặc Nhân trần 40 gam), Chi tử 20 gam, Diên hồ sách 20 gam, chữa các bệnh mật kết sỏi dạng thấp nhiệt, viêm túi mật, có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, hành khí chỉ thống, lợi đởm bài sỏi. Đặc điểm của nó là dùng Hổ trượng hoặc cây 3 gai thay Hoàng liên, có thể dùng cả Kim tiền thảo và Nhân trần, qua thực tiễn lâm sàng chứng minh hiệu quả điều trị cơ bản giống nhau, có thể phổ biến rộng.

Thực tiễn ở các địa phương chứng minh: Kim tiền thảo, Đại hoàng, Mộc hương, Chỉ xác Hổ trượng, Trần bì cùng phối hợp dùng có tác dụng tiêu sỏi bài sỏi.

Bài viết cùng chuyên mục

Tiêu kim đan

Các vị nghiền nhỏ dùng bột gạo nếp viên thành hoàn. Với liều lượng phương trên chế được 500 viên. (ở Thượng Hải hay chế thành viên dẹt gọi là phiến).

Thanh ôn bại độc ẩm

Bài này dùng các vị thuốc gia giảm của 3 bài Thạch cao tri mẫu thang, Tê giác địa hoàng thang, Hoàng liên giải độc thang tạo thành.

Tịch loại tán (Ôn nhiệt kinh vi)

Trước hết rửa sạch khoang miệng, cho thuốc này vào, thổi vào yết hầu chỗ có thịt thối loét. Mỗi ngày 1-2 lần. Nếu thuốc có vào họng ăn, có thể nuốt được.

Đại hàm hùng thắng

Bài này dùng Đại hoàng, Mang tiêu, Cam toại đều là những vị thuốc tả hạ tương đối mạnh nên gọi là phương thuốc tuấn tả trục thủy.

Ngũ nhân hoàn

Người già hoặc người sau khi sinh đẻ mà huyết hư, tân dịch không đủ bị bí đại tiện có thể gia thêm thủ ô tươi, Sinh địa tươi.

Thập khôi hoàn

Đây là phương thường dùng để cầm máu. Mười vị thuốc trong phương đều có tác dụng lương huyết chỉ huyết.

Hoàng thổ thang

Phương này tiêu biểu cho các tễ ôn dược chỉ huyết. Đất lòng bếp ôn trung hòa vị, sáp tràng cố hạ, có tác dụng chỉ thổ, chỉ tả, và chỉ huyết. Gọi là tam chỉ chủ dược.

Tiêu ung thang (Tiên phương hoạt mệnh ẩm)

Toàn phương có công năng thanh nhiệt giải độc hoạt huyết tiêu ung, gia thêm rượu vì “tửu năng hành dược tính”; khiến cho sức thuốc chóng tới nơi có bệnh.

Kim phất thảo tán

Kim phất thảo ôn tán, hóa đàm, giáng khí là chủ dược, phụ với Tiền hồ tuyên hạ phế khí. Kinh giới, Tế tân, Sinh khương phát tán phong hàn.

Dũ đới hoàn (Thư thụ căn hoàn)

Các vị tán bột, dùng bột gạo nếp từ 10-20% quấy thành hồ luyện thuốc bột thành viên to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 4-12 gam. Ngày 1-2 lần với nước chín.

Hương nhu ẩm

Tính của Hương nhu là tân ôn, có tác dụng phát hãn giải biểu mạnh đồng thời có thể lợi thấp, khử thử cho nên là bài giải biểu thường dùng chữa thử thấp.

Sài cát giải cơ thang

Bài này lấy Cát căn, Sài hồ để tân tán thanh nhiệt và lấy Khương hoạt để tân ôn phát biểu nhằm giải tỏa biểu tà để người và xương khỏi đau.

Địa hoàng ẩm tử

Đặc điểm ghép các vị thuốc của bài này là cùng dùng hai loại thuốc ôn thận tư âm và khai khiếu an thần, nhằm chữa bệnh trúng phong.

Hắc tích đan

Hắc tích giáng nghịch khí trừ đờm dãi, Lưu hoàng bổ mệnh môn hỏa tiêu âm hàn. Hai vị dùng để trấn nhiếp phù dương là thuốc chủ yếu để ôn giáng nghịch khí.

Nội tiêu loa lịch hoàn

Bài này đặc điểm là tập trung hóa đàm, làm mềm chất rắn, tán kết để tiêu bướu, tràng nhạc, đàm hạch, các vị Hải táo, Chỉ xác, Kiết cánh, Bối mẫu, Liên kiều, Hải phấn, Huyền sâm.

Lục vị địa hoàng hoàn

Trong quá trình mắc bệnh mạn tính thấy can thận bất túc, thận âm khuy tổn, lưng đầu gối đau thắt, hoa mắt, ù tai, di tinh, tiêu khát và trẻ em phát dục không tốt.

Quất lâu giới bạch (bạch tửu thang)

Giới bạch tính ôn mà thông dương, nhất hàn, nhất ôn dùng để thông dương tán kết, hóa đàm hạ khí, trị các chứng do dương khí bất thông.

Đương quy lục hoàng hoàn

Bài này dùng “Tam hoàng” tả hỏa, “Nhị địa” tư âm, Hoàng kỳ, Đương quy bổ khí huyết, cùng phối hợp chữa, có tác dụng tư âm thanh hỏa.

Chỉ thực đạo trệ hoàn

Bài này dùng Đại hoàng, Chỉ thực công hạ tích trệ; Hoàng liên, Hoàng cầm táo thấp thanh nhiệt, Phục linh, Trạch tả thấm lợi thấp nhiệt.

Tứ thần hoàn

Phép chữa chú ý vào chữa thận, cho nên phương này trọng dụng Bổ cốt chỉ để ôn bổ thận dương làm chủ dược; phụ trợ có các vị, Ngô thù du ôn trung tán hàn.

Phổ tế tiêu độc ẩm

Đây là bài thuốc tiêu biểu chữa thanh nhiệt giải độc và sơ tán phong nhiệt. Các vị Hoàng cầm, Hoàng liên, Liên kiều, Huyền sâm.

Tam cao thang

Ma hoàng tân ôn phát tán, tuyên phế bình suyễn là chủ dược. Hạnh nhân giáng khí, nhuận phế, chỉ khái, giúp Ma hoàng bình suyễn.

Đạo nhiệt tán

Chủ trị tâm hỏa vượng, tâm phiền không ngủ được, mồm lưỡi sinh mụn có loét, tiểu tiện xẻn đỏ, đau buốt.

Súc tuyến hoàn

Các vị nghiền thành bột, dùng nước sôi để nguội luyện thành hoàn to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 4-12 gam với nước nóng. Ngày 2-3 lần.

Cứu nhất đan (Y tông kim giám)

Thạch cao chín là loại thuốc hết nhuận lại kiêm có tác dụng thanh lương, tốt nhất là dùng Thạch cao đã tầm nước tiểu (tẩm nửa năm, lại làm sạch trong 2 tháng) rất hay.