- Trang chủ
- Sách y học
- Sinh lý y học
- Thành phần dịch trong cơ thể người
Thành phần dịch trong cơ thể người
Ở người trưởng thành, tổng lượng dịch trong cơ thể khoảng 42L, chiếm 60% trọng lượng. Tỉ lệ này còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và thể trạng từng người.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Tổng lượng dịch trong cơ thể gồm 2 phần chính: dịch ngoại bào và dịch nội bào. Dịch ngoại bào lại được tạo thành từ 2 thành phần là dịch gian bào và lòng mạch.
Có một số lượng dịch nhỏ khác, được gọi là “ dịch xuyên bào”. Chúng nằm trong các bao hoạt dịch, khoang phúc mạc, màng ngoài tim, cũng như trong dịch não tủy; được xem như là một dạng đặc biệt của dịch ngoại bào, mặc dù đôi lúc lại di chuyển vào trong tế bào hay vào lòng mạch.Số lượng của loại dịch này khoảng 1-2 L.
Ở người trưởng thành, tổng lượng dịch trong cơ thể khoảng 42L, chiếm 60% trọng lượng. Tỉ lệ này còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và thể trạng từng người. Người càng già thì lượng dịch trong cơ thể càng giảm. Đó là do càng lớn tuổi thì lượng mỡ càng nhiều, nên lượng nước sẽ giảm.
Ở phụ nữ, lượng mỡ nhiều hơn đàn ông, nên lượng nước trong cơ thể sẽ thấp, chiếm khoảng 50% trọng lượng; ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, thì lượng này khoảng 70-75 % trọng lượng. Do đó, điều quan trọng cần nhớ là lượng nước trong cơ thể khác nhau tùy từng độ tuổi, giới tính, và thể trạng từng người.

Hình. Điều hòa dịch của cơ thể, bao gồm các ngăn chính của cơ thể và các màng ngăn cách các ngăn này. Các giá trị được hiển thị ở một người đàn ông trưởng thành trung bình 70 kg.
Lượng dịch nội bào
Cơ thể người có 100 nghìn tỷ tế bào, chứa 28 L trên tổng số 42 L dịch toàn cơ thể, lượng dịch này gọi là dịch nội bào, chiếm trung bình 40% tổng trọng lượng cơ thể.
Lượng dịch trong mỗi tế bào bao gồm nhiều thành phần, nhưng nồng độ các chất trong mỗi tế bào là hoàn toàn giống nhau. Không chỉ thế, nồng độ các chất trong tế bào giữa các loài khác nhau, từ đơn bào đến loài người đều giống nhau. Chính vì vậy, lượng dịch trong tất cả các tế bào được coi như là một với lượng không đổi.
Lượng dịch ngoại bào
Tất cả dịch nằm ngoài tế bào đều được gọi là dịch ngoại bào. Lượng dịch này chiếm 20% trọng lượng cơ thể, số lượng khoảng 14L. Hai thành phần chính của dịch ngoại bào là dịch chiếm bào (chiếm ¾ số lượng, khoảng 11 L) và huyết tương (chiếm ¼ , khoảng 3 L).
Huyết tương là lượng dịch trong máu nhưng không nằm trong tế bào, nó trao đổi liên tục với dịch gian bào thông qua các lỗ trên mao mạch. Những lỗ này có tính thấm cao với hầu hết các chất tan ở ngoại bào trừ protein. Chính nhờ sự trao đổi này mà nồng độ các chất tronng huyết tương và gian bào tương đương nhau, trừ protein có nồng độ cao trong huyết tương.
Thể tích máu
Máu bào gồm cả dịch ngoại bào (huyết tương) và dịch nội bào (trong các tế bào máu). Tuy nhiên, máu được xem như một thành phần dịch rất riêng biệt, chứa trong hệ thống tuần hoàn, đảm nhiệm vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì huyết động.
Lượng máu trung bình chiếm khoảng 7% trọng lượng cơ thể, tầm 5L, trong đó huyết tương chiếm 60%, còn lại 40% trong các tế bào máu. Tuy nhiên, số lượng này còn phụ thuộc vào tuổi, giới và nhiều yếu tố khác.
Hematocrit: hematocrit là phân số của hồng cầu, được xác định bằng cách quay ly tâm máu trong ống cho đến khi các tế bào hồng cầu lắng xuống. Bởi vì các tế bào máu không thể lắng hết xuống đáy ống khi ly tâm do vẫn có 3-4 % tế bào bị hòa vào trong huyết tương nên lượng hematocrit đo được chỉ bằng 96% hematocrit thực tế.
Ở đàn ông, hematocrit khoảng 0,4; trong khi ở phụ nữ là 0,36. Ở những bệnh nhân bị thiếu máu cấp, lượng hematocrit có thể giảm xuống 0,1, giới hạn thấp nhất để duy trì sự sống. Ngược lại, ở những người co tăng quá trình sản xuất hồng cầu một cách bất thường, chẳng hạn như trong bệnh đa hồng cầu, hematocrit co thể lên tới 0,65.
Bài viết cùng chuyên mục
Sinh lý tiêu hóa ở ruột già (đại tràng)
Ruột già gồm có manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma và trực tràng. Quá trình tiêu hóa ở ruột già không quan trọng, bởi vì khi xuống đến ruột già, chỉ còn lại những chất cặn bả của thức ăn.
Sự đào thải các hormone khỏi hệ tuần hoàn
Có hai yếu tố có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ của các hormone trong máu, yếu tố là mức độ bài tiết hormone vào máu và yếu tố mức độ đào thải hormone ra khỏi máu.
Feedback âm của estrogen và progesterone làm giảm bài tiết FSH và LH
Ngoài ảnh hưởng của feedback âm tính của estrogen và progesterone, vài hormone khác cũng tham gia vào việc này, đặc biệt là inhibin- được tiết ra cùng với các hormone steroid giới tính bởi các tế bào hạt tại hoàng thể.
Hormon điều hòa vận động đường tiêu hóa
Phần lớn hormone điều hòa sự bài tiết ở đường tiêu hóa cũng tác động lên sự vận động một số vùng của đường tiêu hóa. Mặc dùng tác dụng vận động thường ít quan trọng hơn tác dụng bài tiết.
ACTH liên quan với hormon kích thích tế bào sắc tố, Lipotropin và Endorphin
Khi mức bài tiết ACTH cao, có thể xảy ra ở những người bệnh Addison, hình thành một số các hormon khác có nguồn gốc POMC cũng có thể được tăng.
Tác dụng của corticoid lên chuyển hóa protein
Một tác dụng chính của corticoid lên hệ thống chuyển hóa của cơ thể làm giảm dự trữ protein trong tất cả các tế bào của cơ thể ngoại trừ các tế bào gan.
Sinh lý tiêu hóa ở miệng và thực quản
Nhai là hoạt động cơ học của miệng có tác dụng nghiền xé thức ăn và trộn đều thức ăn với nước bọt. Nhai là một động tác nửa tự động, có lúc nhai được thực hiện tự động nhưng có khi được thực hiện chủ động.
Receptor: sự thích nghi và chức năng dự báo receptor tốc độ
Sự thích ứng của các loại thụ thể khác nhau cho thấy sự thích nghi nhanh chóng của một số thụ thể và sự thích ứng chậm của những thụ thể khác.
Adenosine Triphosphate là đơn vị tiền tệ năng lượng của cơ thể
Adenosine triphosphate móc xích cần thiết giữa chức năng sử dụng và sản xuất năng lượng của cơ thể. Vì lý do này, ATP được gọi là đơn vị tiền tệ năng lượng của cơ thể.
Dịch cơ thể và muối trong tập luyện thể thao
Kinh nghiệm đã chứng minh vẫn còn vấn đề điện giải khác ngoài natri, là mất kali. Mất kali kết quả một phần từ sự tiết tăng aldosterone trong thích nghi với khí hậu nhiệt, làm tăng mất kali trong nước tiểu, cũng như mồ hôi.
Acid béo với alpha Glycerophosphate để tạo thành Triglycerides
Quá trình tổng hợp triglycerides, chỉ có khoảng 15% năng lượng ban đầu trong đường bị mất đi dưới dạng tạo nhiệt, còn lại 85% được chuyển sang dạng dự trữ triglycerides.
Cấu trúc tế bào cơ thể người
Hầu hết bào quan của tế bào được che phủ bởi màng bao gồm lipid và protein. Những màng này gồm màng tế bào, màng nhân, màng lưới nội sinh chất, màng ti thể, lysosome,và bộ máy golgi.
Androgen của thượng thận
Androgen thượng thận cũng gây tác dụng nhẹ ở nữ, không chỉ trước tuổi dậy thì mà còn trong suốt cuộc đời, phần lớn sự tăng trưởng của lông mu và nách ở nữ là kết quả hoạt động của các hormon này.
Trao đổi chất của cơ tim
ATP này lần lượt đóng vai trò như các băng tải năng lượng cho sự co cơ tim và các chức năng khác của tế bào. Trong thiếu máu mạch vành nặng, ATP làm giảm ADP, AMP và adenosine đầu tiên.
Sự khuếch tán dễ qua màng tế bào
Khuếch tán được làm dễ cần đến sự giúp đỡ của protein mang. Protein mang giúp một phân tử hay ion đi qua màng bởi liên kết hóa học với chúng.
Đặc điểm sinh lý cấu tạo bộ máy tiêu hóa
Thiết đồ cắt ngang, ống tiêu hóa cấu tạo gồm 8 lớp từ trong ra ngoài: niêm mạc, cơ niêm, lớp dưới niêm mạc, đám rối Meissner, cơ vòng
Hạ ô xy máu: bộ chuyển mạch HIFs đáp ứng cơ thể
Khi cơ thể được cung cấp đủ lượng oxy, những dưới - đơn vị của HIF khi hoạt động đòi hỏi hoạt hóa hàng loạt gen, sẽ bị điều hòa giảm và bất hoạt bằng những HIF hydroxylase.
Kiểm soát cục bộ lưu lượng máu đáp ứng nhu cầu của mô
Lưu lượng máu đến da quyết định sự thải nhiệt từ cơ thể, giúp kiểm soát nhiệt độ cơ thể. Ngoài ra sự vận chuyển đầy đủ máu đến thận cho phép thận lọc và bài tiết các chất thải của cơ thể, điều chỉnh thể tích dịch cơ thể và chất điện giải.
Điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào và dự trữ năng lượng của cơ thể
Duy trì sự cung cấp năng lượng đầy đủ trong cơ thể quan trọng đến nỗi mà rất nhiều các cơ chế kiểm soát ngắn hạn và dài hạn tồn tại không chỉ điều chỉnh năng lượng hấp thu mà cả năng lượng tiêu thụ và năng lượng dự trữ.
Insulin kích hoạt receptor tế bào đích và những kết quả mang lại
Insulin liên kết với tiểu đơn vị của thụ thể của nó, gây ra quá trình tự phosphoryl hóa thụ thể - tiểu đơn vị, từ đó gây ra hoạt hóa tyrosine kinase.
Corticosteroid: Mineralocorticoid, Glucocorticoids và Androgen
Vỏ thượng thận tiết 2 loại hormon chính là mineralocorticoid và glucocorticoid, thêm vào đó nó còn tiết 1 lượng nhỏ hormon sinh dục, đặc biệt hormon androgen, tác dụng giống hormon sinh dục testosteron.
Điều khiển bài tiết hormone qua cơ chế feedback
Mặc dù nồng độ các hormone trong huyết tương luôn dao động theo từng mức độ kích thích khác nhau trong ngày, nhưng sự xuất hiện của tất cả hormone phải được kiểm soát chặt chẽ.
Ức chế đối kháng: cung phản xạ đồi kháng
Phản xạ gấp mạnh hơn này gửi các thông tin ức chế đến chi ban đầu và làm giảm độ co cơ ở chi này, nếu ta loại bỏ kích thích ở chi gấp mạnh hơn, chi ban đầu lại trở về co cơ với cường độ như ban đầu.
Cấu tạo tế bào cơ thể người
Để hiểu được chức năng của các cơ quan và các cấu trúc khác của cơ thể, đầu tiên chúng ta cần hiểu được những cấu trúc cơ bản của tế bào và chức năng của những bộ phận cấu thành nên nó.
Hô hấp trong tập luyện thể thao
Có một mối quan hệ tuyến tính. Cả tiêu thụ oxy và tổng thông khí phổi tăng gấp khoảng 20 lần từ trạng thái nghỉ ngơi và cường độ tập luyện tối đa ở các vận động viên được tập luyện tốt.
