Thành phần dịch trong cơ thể người

2020-08-31 09:28 AM

Ở người trưởng thành, tổng lượng dịch trong cơ thể khoảng 42L, chiếm 60% trọng lượng. Tỉ lệ này còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và thể trạng từng người.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tổng lượng dịch trong cơ thể gồm 2 phần chính: dịch ngoại bào và dịch nội bào. Dịch ngoại bào lại được tạo thành từ 2 thành phần là dịch gian bào và lòng mạch.

Có một số lượng dịch nhỏ khác, được gọi là “ dịch xuyên bào”. Chúng nằm trong các bao hoạt dịch, khoang phúc mạc, màng ngoài tim, cũng như trong dịch não tủy; được xem như là một dạng đặc biệt của dịch ngoại bào, mặc dù đôi lúc lại di chuyển vào trong tế bào hay vào lòng mạch.Số lượng của loại dịch này khoảng 1-2 L.

Ở người trưởng thành, tổng lượng dịch trong cơ thể khoảng 42L, chiếm 60% trọng lượng. Tỉ lệ này còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và thể trạng từng người. Người càng già thì lượng dịch trong cơ thể càng giảm. Đó là do càng lớn tuổi thì lượng mỡ càng nhiều, nên lượng nước sẽ giảm.

Ở phụ nữ, lượng mỡ nhiều hơn đàn ông, nên lượng nước trong cơ thể sẽ thấp, chiếm khoảng 50% trọng lượng; ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, thì lượng này khoảng 70-75 % trọng lượng. Do đó, điều quan trọng cần nhớ là lượng nước trong cơ thể khác nhau tùy từng độ tuổi, giới tính, và thể trạng từng người.

Điều hòa dịch của cơ thể

Hình. Điều hòa dịch của cơ thể, bao gồm các ngăn chính của cơ thể và các màng ngăn cách các ngăn này. Các giá trị được hiển thị ở một người đàn ông trưởng thành trung bình 70 kg.

Lượng dịch nội bào

Cơ thể người có 100 nghìn tỷ tế bào, chứa 28 L trên tổng số 42 L dịch toàn cơ thể, lượng dịch này gọi là dịch nội bào, chiếm trung bình 40% tổng trọng lượng cơ thể.

Lượng dịch trong mỗi tế bào bao gồm nhiều thành phần, nhưng nồng độ các chất trong mỗi tế bào là hoàn toàn giống nhau. Không chỉ thế, nồng độ các chất trong tế bào giữa các loài khác nhau, từ đơn bào đến loài người đều giống nhau. Chính vì vậy, lượng dịch trong tất cả các tế bào được coi như là một với lượng không đổi.

Lượng dịch ngoại bào

Tất cả dịch nằm ngoài tế bào đều được gọi là dịch ngoại bào. Lượng dịch này chiếm 20% trọng lượng cơ thể, số lượng khoảng 14L. Hai thành phần chính của dịch ngoại bào là dịch chiếm bào (chiếm ¾ số lượng, khoảng 11 L) và huyết tương (chiếm ¼ , khoảng 3 L).

Huyết tương là lượng dịch trong máu nhưng không nằm trong tế bào, nó trao đổi liên tục với dịch gian bào thông qua các lỗ trên mao mạch. Những lỗ này có tính thấm cao với hầu hết các chất tan ở ngoại bào trừ protein. Chính nhờ sự trao đổi này mà nồng độ các chất tronng huyết tương và gian bào tương đương nhau, trừ protein có nồng độ cao trong huyết tương.

Thể tích máu

Máu bào gồm cả dịch ngoại bào (huyết tương) và dịch nội bào (trong các tế bào máu). Tuy nhiên, máu được xem như một thành phần dịch rất riêng biệt, chứa trong hệ thống tuần hoàn, đảm nhiệm vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì huyết động.

Lượng máu trung bình chiếm khoảng 7% trọng lượng cơ thể, tầm 5L, trong đó huyết tương chiếm 60%, còn lại 40% trong các tế bào máu. Tuy nhiên, số lượng này còn phụ thuộc vào tuổi, giới và nhiều yếu tố khác.

Hematocrit: hematocrit là phân số của hồng cầu, được xác định bằng cách quay ly tâm máu trong ống cho đến khi các tế bào hồng cầu lắng xuống. Bởi vì các tế bào máu không thể lắng hết xuống đáy ống khi ly tâm do vẫn có 3-4 % tế bào bị hòa vào trong huyết tương nên lượng hematocrit đo được chỉ bằng 96% hematocrit thực tế.

Ở đàn ông, hematocrit khoảng 0,4; trong khi ở phụ nữ là 0,36. Ở những bệnh nhân bị thiếu máu cấp, lượng hematocrit có thể giảm xuống 0,1, giới hạn thấp nhất để duy trì sự sống. Ngược lại, ở những người co tăng quá trình sản xuất hồng cầu một cách bất thường, chẳng hạn như trong bệnh đa hồng cầu, hematocrit co thể lên tới 0,65.

Bài viết cùng chuyên mục

Vai trò của nước bọt trong việc vệ sinh răng miệng

Miệng luôn luôn phải chịu đựng một lượng lớn vi khuẩn gây bệnh có khả năng hủy hoại mô một cách dễ dàng và gây nên sâu răng. Nước bọt giúp ngăn cản quá trình có hại này theo một số cách.

Đơn vị đo độ khúc xạ của một thấu kính “Diopter”: nguyên lý quang học nhãn khoa

Mức độ bẻ cong các tia sáng của thấu kính được gọi là “độ khúc xạ”. Độ khúc xạ có đơn vị là diopter. Độ khúc xạ của một thấu kính bằng 1m chia cho tiêu cự của nó.

Các hormone hoạt động chủ yếu trên bộ máy gen của tế bào

Các hormone hoạt động chủ yếu trên bộ máy gen của tế bào, các hormone steroid làm tăng tổng hợp protein, các hormone tuyến giáp làm tăng quá trình phiên mã gen trong nhân tế bào.

Chức năng của vùng hải mã: vùng kéo dài của vỏ não

Hải mã và các cấu trúc nằm cạnh thùy thái dương và thùy đỉnh, được gọi là khối hải mã liên kết chủ yếu gián tiếp với nhiều phần của vỏ não cũng như các cấu trúc cơ bản của hệ limbic – thể hạnh nhân, vùng dưới đồi, vách trong suốt và thể vú.

Tinh trùng và sinh sản nam

Đôi khi một nam giới có số lượng tinh trùng bình thường nhưng vẫn bị vô sinh. Khi tình trạng này xảy ra, rất nhiều, thậm trí là một nửa số tinh trùng của người này có hình dạng bất thường, có hai đầu, bất thường đầu hay bất thường thân.

Thể dịch điều hòa huyết áp: tầm quan trọng của muối (NaCl)

Việc kiểm soát lâu dài huyết áp động mạch được gắn bó chặt chẽ với trạng thái cân bằng thể tích dịch cơ thể, được xác định bởi sự cân bằng giữa lượng chất dịch vào và ra.

Sự vận động của tế bào cơ thể người

Yếu tố cần thiết của sự chuyển động là cung cấp năng lượng cần thiết để kéo tế bào về phía chân giả. Trong bào tương của tất cả tế bào là một lượng lớn protein actin.

Khả năng co giãn của mạch máu

Sự co giãn của mạch máu một cách bình thường được biểu diễn là một phân số của một sự gia tăng thể tích trên một mmHg sự tăng áp lực.

Vai trò của vùng dưới đồi điều hòa nhiệt độ cơ thể

Nhiệt độ của cơ thể được điều chỉnh hầu như hoàn toàn bởi cơ chế điều khiển thần kinh, và hầu hết mọi cơ chế này tác dụng thông qua trung tâm điều hòa nhiệt nằm ở vùng dưới đồi.

Phức bộ QRS: nguyên nhân gây ra điện thế bất thường

Một trong các nguyên nhân gây giảm điện thế của phức bộ QRS trên điện tâm đồ là các ổ nhồi máu cơ tim cũ gây giảm khối lượng cơ tim, làm cho sóng khử cực đi qua tâm thất chậm và ngăn các vùng của tim khử cực cùng 1 lúc.

Cấu tạo chung của hệ thần kinh: thần kinh trung ương và sự nhận cảm đáp ứng

Một đặc tính của hầu hết các sợi thần kinh là các tín hiệu dẫn truyền thường chỉ đi theo một hướng: từ sợi trục của sợi thần kinh phía trước tới sợi gai của sợi phía sau.

Tổng hợp những hormon chuyển hóa của tuyến giáp

Giai đoạn đầu hình thành hormon tuyến giáp là vận chuyện iod từ máu vào các tế bào tuyến giáp và các nang giáp. Màng đáy của tế bào tuyến giáp có khả năng đặc biệt để bơm iod tích cực vào trong tế bào.

Các vùng liên hợp: cảm giác thân thể

Kích thích điện vào vùng liên hợp cảm giác bản thể có thể ngẫu nhiên khiến một người tỉnh dậy để thí nghiệm một cảm nhận thân thể phức tạp, đôi khi, chỉ là “cảm nhận” một vật thể như một con dao hay một quả bóng.

Đại cương sinh lý học về máu

Máu được tim bơm vào hệ thống mạch máu và đi khắp cơ thể. Trong công tác chăm sóc sức khoẻ, máu đặc biệt được quan tâm vì có nhiều xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện trên máu.

Chu kỳ gan ruột của muối mật trong tiêu hóa và hấp thu chất béo

Khoảng 94% muối mật ở ruột non sẽ được tái hấp thu vào trong máu, khoảng một nửa số này sẽ được khuếch tán qua niêm mạc ruột non và phần còn lại được tái hấp thu thông qua quá tŕnh vận chuyển tích cực ở niêm mạc ruột.

Phản xạ tủy sống gây co cứng cơ

Các xương bị gẫy gửi các xung động về cảm giác đau về tủy sống, gây ra co cơ xung quanh. Khi gây tê cục bộ hay gây tê toàn thân, kích thích đau biến mất, sự co thắt cũng biến mất.

Sự di chuyển của trứng đã thụ tinh trong ống dẫn trứng

Progesterone tăng tiết ra nhiều bởi hoàng thể buồng trứng đầu tiên thúc đẩy tăng thụ thể progesterone ở các tế bào cơ trơn ống dẫn trứng, sau đó progesterone kích thích các thụ thể, gây giãn ống cho phép trứng đi vào tử cung.

Chức năng hành vi của vùng dưới đồi và cấu trúc liên kết với hệ limbic

Cùng với chức năng thực vật và nội tiết, sự kích thích hay thương tổn vùng dưới đồi cũng gây ảnh hưởng lớn đến hành vi cảm xúc của động vật và con người. Một số ảnh hưởng  hành vi do sự kích thích vùng dưới đồi.

Sự dẫn truyền cảm giác: đặc điểm trong con đường trước bên

Hệ trước bên là hệ thống dẫn truyền chưa phát triển bằng hệ thống cột tủy sau - dải cảm giác giữa. Thậm chí, các phương thức cảm giác nhất định chỉ được dẫn truyền trong hệ thống này.

Sóng chạy: sự dẫn truyền của sóng âm trong ốc tai

Các kiểu dẫn truyền khác nhau của sóng âm với các tần số khác nhau. Mỗi sóng ít kết hợp ở điểm bắt đầu nhưng trở nên kết hợp mạnh mẽ khi chúng tới được màng nền, nơi có sự cộng hưởng tự nhiên tần số bằng với tần số của các sóng riêng phần.

Ảnh hưởng của lực ly tâm lên cơ thể

Ảnh hưởng quan trọng nhất của lực ly tâm là trên hệ tuần hoàn, bởi vì sự lưu thông của máu trong cơ thể phụ thuộc vào độ mạnh của lực ly tâm.

Vận chuyển chủ động các chất qua màng bào tương

Hình thức vận chuyển này được chia làm hai loại, vận chuyển chủ động nguyên phát, và vận chuyển chủ động thứ phát tùy theo năng lượng.

Đặc điểm của sự bài tiết ở dạ dày

Khi bị kích thích, các tế bào viền bài tiết dịch acid chứa khoảng 160mmol/L acid chlohydric, gần đẳng trương với dich của cơ thể. Độ pH của acid này vào khoảng 0.8 chứng tỏ tính rất acid của dịch.

Trao đổi dịch qua màng mao mạch

Áp lực tái hấp thu làm cho khoảng 9/10 lượng dịch đã được lọc ra khỏi đầu mao động mạch được hấp thụ lại ở mao tĩnh mạch. Một phần mười còn lại chảy vào các mạch bạch huyết và trả về tuần hoàn chung.

Trạm thần kinh: sự kéo dài tín hiệu thần kinh bằng trạm thần kinh “Sự kích ứng tồn lưu”

Khi các synap kích thích trên bề mặt của sợi nhánh hay thân của một nơ-ron, một điện thế sau synap tạo ra trong tế bào thần kinh và kéo dài trong nhiều mili giây, đặc biệt là khi có mặt một số chất dẫn truyền ở synap hoạt hóa kéo dài.