Ngưng thở khi ngủ: nguyên lý nội khoa

2018-04-10 11:16 AM

Ngưng thở khi ngủ trung ương đặc trưng bởi tình trạng ngưng thở khi ngủ do mất đi sự gắng sức thở. Ngưng thở khi ngủ trung ương hay gặp ở bệnh nhân suy tim đột quỵ.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Định nghĩa và nguyên nhân

Ngưng thở khi ngủ được xác định bởi sự có mặt của ít nhất 5 lần ngừng thở mỗi giờ (không thông khí trong ≥ 10 giây) và/hoặc giảm nhịp thở (giảm nhịp thở ít nhất 50% so với mức nền trong ≥10 giây). Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn/ hội chứng giảm nhịp thở (OSAHS) là nguyên nhân thường gặp nhất của dấu hiệu ngủ gà ban ngày. Ngưng thở khi ngủ gây nên bởi sự đóng đường thở trên trong khi hít vào, bị ngắt quãng bởi thời gian tỉnh giấc ngắn và sẽ kết thúc giai đoạn ngưng thở. Yếu tố nguy cơ của ngưng thở khi ngủ bao gồm béo phì và cấu trúc giải phẫu bất thường với hàm trên hoặc hàm dưới ngắn. Nhược giáp và to đầu chi là các bệnh hệ thống gây nên ngưng thở khi ngủ.

Ngưng thở khi ngủ trung ương (CSA) đặc trưng bởi tình trạng ngưng thở khi ngủ do mất đi sự gắng sức thở. Ngưng thở khi ngủ trung ương hay gặp ở bệnh nhân suy tim đột quỵ; Ngưng thở khi ngủ trung ương nguyên phát rất hiếm gặp.

Đánh giá lâm sàng

Các triệu chứng của ngưng thở khi ngủ bao gồm ngủ gà ban ngày, giảm khả năng nhận thức và tập trung, tiểu đêm và giảm ham muốn tình dục. Tiếng ngáy to hay được ghi nhận bởi những người ngủ cùng. Trầm cảm và tăng huyết áp có liên quan đến ngưng thở khi ngủ, và nguy cơ các bệnh tim mạch có thể tăng lên. Chẩn đoán phân biệt bao gồm thiếu ngủ, ngủ gà do áp lực công việc, trầm cảm, tác dụng phụ của thuốc (cả thuốc kích thích và giảm đau), chứng ngủ rũ và chứng rối loạn giấc ngủ nguyên phát.

Mức độ ngủ gà được đánh giá bằng thang điểm Epworth Sleepiness Score, mặc dù bệnh nhân không buồn ngủ ở những thời điểm không thích hợp có thể bỏ qua những câu hỏi này. Những câu chuyện về giấc ngủ từ những người bạn cùng phòng là rất hữu ích. Chứng ngủ gà ban ngày có thể gặp ở bệnh nhân ngưng thở khi ngủ trung ương lẫn ngưng thở khi ngủ.

Khám thực thể cần bao gồm đánh giá chỉ số BMI, cấu trúc đường thở trên, quai hàm và huyết áp. Cũng cần phải cân nhắc các bệnh hệ thống bao gồm bệnh nhược giáp và bệnh to đầu chi.

Xét nghiệm chẩn đoán bao gồm đa ký giấc ngủ trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, những nghiên cứu về hạn chế giấc ngủ mà không giám sát bệnh lý thần kinh có thể được dùng để sàng lọc. Bệnh nhân ngủ gà ban ngày nặng có test sàng lọc âm tính nên được làm đa ký giấc ngủ toàn phần. Nhiều chỉ số ngưng thở được đánh dấu trước đó đối với chứng ngưng thở trung tâm khi thực hiện đa ký giấc ngủ có thể là những chỉ số tắc nghẽn mặc dù không có sự di động của ngực bụng.

Điều trị ngưng thở khi ngủ

Bệnh nhân mắc chứng ngủ gà ban ngày nặng và có trên 15 chỉ số ngưng thở và/hoặc giảm nhịp thở mỗi giờ hoàn toàn phù hợp với điều trị; những lợi ích sẽ giảm đi cùng với mức độ nhẹ hơn của ngưng thở khi ngủ.

Những nỗ lực giảm cân ở bệnh nhân, hạn chế uổng rượu và sự cẩn thận khi không dùng thuốc giảm đau cần được thực hiện đến cùng.

Phương pháp điều trị chủ yếu chứng ngưng thở khi ngủ là CPAP.

Cần lựa chọn một hệ thống mặt nạ phù hợp và xác định cả lượng CPAP cần thiết. Đường thở khô do CPAP có thể được giảm thiểu bởi thiết bị làm ẩm đun ấm trong hệ thống CPAP. Điều trị thay thế ngưng thở khi ngủ bao gồm thiết bị nẹp và thay đổi vị trí xương hàm dưới có tác dụng giữ hàm và lưỡi ra phía trước giúp mở rộng hầu họng. Một vài thủ thuật can thiệp được sử dụng trọng ngưng thở khi ngủ, bao gồm phẫu thuật giảm cân ở người béo phì, phẫu thuật lưỡi, đưa hàm ra trước và phẫu thuật hầu họng. Mở khí quả có tác dụng vì nó can thiệp trực tiếp vào vị trí tắc nghẽn, tuy nhiên ít được sử dụng. Không có thuốc nào được chứng minh làm giảm khó thở; tuy nhiên, modafinil có thể giúp giảm buồn ngủ.

Điều trị ngưng thở khi ngủ trung ương bao gồm xử trí căn nguyên, ví dụ như suy tim sung huyết. CPAP có thể có hiệu quả ở một số bệnh nhân ngưng thở khi ngủ trung ương.

Bài viết cùng chuyên mục

Áp xe và u máu ngoài màng tủy

Chọc dò tuỷ sống được chỉ định nếu bệnh lý não hoặc các dấu hiệu lâm sàng khác tăng nghi ngờ viêm màng não, chiếm nhỏ hơn 25 phần trăm trường hợp.

Rắn độc cắn: nguyên lý nội khoa

Nọc độc rắn là một hợp chất hỗn hợp phức tạp của nhiều men và các chất khác tác dụng tăng tính thấm thành mạch, gây hoại tử mô, ảnh hưởng đến quá trình đông máu.

Bệnh thận đa nang: nguyên lý nội khoa

Biểu hiện của bệnh thận đa nang là rất khác nhau, với độ tuổi khởi phát của bệnh thận giai đoạn cuối từ trẻ em cho đến người gia.

Hạ đường huyết: nguyên lý nội khoa

Hạ đường huyết tái phát làm thay đổi ngưỡng của các triệu chứng thần kinh thực vật và đáp ứng chống điều hòa với mức glucose thấp, dẫn đến mất ý thức do hạ đường huyết.

Amiodarone: thuốc gây bất thường chức năng tuyến giáp

Amiodarone là thuốc chống loạn nhịp tim type III có một số cấu trúc tương tự với hormon tuyến giáp và có hàm lượng iốt cao.

Bệnh da rối loạn mạch máu hay gặp: nguyên lý nội khoa

Viêm vách ngăn của mô mỡ dưới da đặc trưng bởi tổn thương ban đỏ, ấm, dạng nốt mềm dưới da điển hình là ở mặt trước xương chày. Tổn thương thường xuất hiện trên bề mặt da.

Ho: nguyên lý nội khoa

Các vấn đề quan trọng trong bệnh sử gồm yếu tố thúc đẩy ho, yếu tố gây tăng và giảm ho, và sự xuất đàm. Đánh giá các triệu chứng của bệnh ở mũi hầu, gồm chảy mũi sau, hắt hơi.

Ung thư đại trực tràng và hậu môn

Phần lớn ung thư đại tràng có nguồn gốc từ các polyp tuyến. Các bậc di truyền từ polyp đến loạn sản thành ung thư tại chỗ, ung thư thâm nhiễm đã được xác định.

Tiếp cận bệnh nhân chèn ép tủy sống

Trên những bệnh nhân có triệu chứng tuỷ sống, bước đầu tiên là loại trừ chèn ép do khối u có thể điều trị được. Bệnh lý chèn ép thường có các dấu hiệu cảnh báo.

Sốc nhiễm trùng với các biểu hiện ở da

Biểu hiện bóng xuất huyết với hoại tử và loét trung tâm và một vành ban đỏ trên bệnh nhân sốc nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa hoặc Aeromonas hydrophila.

Đau vai và cổ: nguyên lý nội khoa

Viêm xương khớp cột sống cổ có thể gây đau cổ lan ra sau đầu, lưng hoặc tay, có thể là nguyên nhân đau đầu vùng chẩm sau. Có thể xuất hiện kết hợp bệnh lý rễ và tủy.

Viêm bàng quang kẽ: nguyên lý nội khoa

Không giống như đau vùng chậu phát sinh từ các nguồn khác, đau do viêm bàng quang kẽ càng trầm trọng hơn khi đổ đầy bàng quang, và giảm khi bàng quang rỗng.

Thiếu hụt Androgen: thiếu hụt hệ sinh sản nam giới

Việc khám lâm sàng nên tập trung vào các đặc tính sinh dục phụ như mọc râu, lông nách, lông ở ngực và vùng mu, vú to ở nam.

Các phương pháp chẩn đoán bổ trợ bệnh da

Có ích cho việc phát hiện nấm ngoài da hoặc nấm men. Vảy da được lấy từ rìa của tổn thương bằng cách cạo nhẹ nhàng bằng bản kính mang mẫu ở kính hiển vi hoặc một lưỡi dao.

Phù: nguyên lý nội khoa

Giới hạn ở một cơ quan đặc biệt hoặc giường mạch máu, dễ dàng phân biệt được với phù toàn thân, Phù một bên chi thường do tắc tĩnh mạch hoặc mạch bạch huyết

Nhiễm toan chuyển hóa: nguyên lý nội khoa

Tiêu chảy là nguyên nhân thường gặp nhất, nhưng những bất thường từ đường tiêu hóa khác cũng tham gia với mất dịch chứa nhiều carbonhydrat có thể dẫn tới mất nhiều chất kiềm.

Bệnh porphyrin: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Các biểu hiện chính bệnh porphyrin thuộc gan là các triệu chứng thuộc thần kinh, đau bụng do thần kinh, bệnh thần kinh, rối loạn tâm thần.

Mệt mỏi toàn thân

Vì có nhiều nguyên nhân gây ra mệt mỏi, nên việc hỏi bệnh sử kĩ lưỡng, hỏi lược qua các cơ quan, và khám lâm sàng rất quan trọng để thu hẹp và tập trung vào các nguyên nhân phù hợp.

Hội chứng Sjogren: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Một rối loạn miễn dịch đặc trưng bởi sự phá hủy tiến triển tế bào lympho của các tuyến ngoại tiết thường dẫn đến triệu chứng khô mắt và miệng.

Ung thư thận: nguyên lý nội khoa

Cắt hoàn toàn thận là tiêu chuẩn đối với bệnh nhân ở giai đoạn I, II, và phần lớn giai đoạn III. Phẫu thuật cũng có thể được chỉ định trong những trường hợp di căn với các triệu chứng khó.

Nhiễm khuẩn tiết niệu: nguyên lý nội khoa

Yếu tố nguy cơ của viêm bàng quang cấp gồm sử dụng màng ngăn diệt tinh trùng gần đây, quan hệ tình dục thường xuyên, tiền sử nhiễm trùng tiết niệu.

Thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu

Huyết khối tĩnh mạch sâu thường có biểu hiện khó chịu tăng dần ở bắp chân. Đối với thuyên tắc phổi, khó thở là triệu chứng hay gặp nhất.

Run và các rối loạn vận động

Sự dao động theo nhịp điệu của một bộ phận cơ thể do sự co cơ từng cơn, thường ảnh hưởng các đoạn chi ở xa và ít ảnh hưởng đến đầu, lưỡi hay hàm.

Suy thượng thận ở bệnh nhân ung thư

Các triệu chứng như buồn nôn, nôn, chán ăn và hạ huyết áp tư thế có thể do ung thư tiến triển hoặc tác dụng phụ của điều trị.

Suy tim: nguyên lý nội khoa

X quang ngực có thể thấy tim to, tái phân phối tuần hoàn phổi, đường Kerley B, tràn dịch màng phổi. Rối loạn chức năng co bóp và tâm trương thất trái có thể tiếp cận bằng siêu âm tim Doppler.