Liệt mặt: thần kinh mặt (VII)

2018-07-26 08:45 PM

Tổn thương thần kinh ngoại biên với phục hồi không hoàn toàn có thể tạo những đợt co thắt của các cơ bị ảnh hưởng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tìm điểm yếu nửa bên mặt gồm cơ vùng trán và cơ vòng mi. Nếu tổn thương ở phần tai giữa, mất vị giác hai phần ba trước và có thể tăng thính lực; nếu sang thương ở ống tai trong, có thể tổn thương cả thần kinh thính giác và tiền đình; sang thương cầu não thường ảnh hưởng thần kinh vận nhãn ngoài và bó vỏ não-gai. Tổn thương thần kinh ngoại biên với phục hồi không hoàn toàn có thể tạo những đợt co thắt của các cơ bị ảnh hưởng (rung cơ mặt); co thắt toàn bộ cơ trong nổ lực di chuyển một nhóm cơ (đồng động); co thắt nửa mặt; hay khóc bất thường khi cơ mặt được hoạt hoá như khi ăn (nước mắt cá sấu).

Thần kinh mặt

HÌNH. Thần kinh mặt. A, B, và C biểu thị tổn thương thần kinh mặt tại lỗ trâm chũm, xa và gần hạch gối, tương ứng. Đường màu xanh chỉ các sợi đối giao cảm, màu đỏ chỉ các sợi vận động, và màu tím chỉ các sợi đến các tạng (vị giác).

Liệt Bell

Dạng phổ biến nhất của liệt mặt vô căn, ảnh hưởng 1 trong 60 người. Có liên quan đến herpes simplex virus type 1. Yếu tăng dần và đạt đỉnh sau 48h, đôi khi theo sau cơn đau sau miệng. Tăng thính lực có thể xuất hiện. Hồi phục hoàn toàn sau vài tuần hay vài tháng khoảng 80%; liệt không hoàn toàn ở tuần đầu tiên là triệu chứng tiên đoán thuận lợi nhất.

Chẩn đoán dựa trên lâm sàng ở bệnh nhân có (1) biểu hiện điển hình, (2) không yếu tố nguy cơ hay triệu chứng tồn tại trước đó do nguyên nhân liệt mặt khác gây nên, (3) không tổn thương herpes zoster ở ống tai ngoài, (4) khám thần kinh bình thường ngoại trừ thần kinh mặt. Trong trường hợp không chắc chắn, ESR, kiểm tra điện tâm đồ, hiệu giá Lyme, nồng độ enzyme angiotensin-converting và hình ảnh học ngực cho chẩn đoán sarcoidosis, chọc dịch não tuỷ cho chẩn đoán hội chứng Guillain-Barré, hay MRI có thể được chỉ định.

Điều trị liệt Bell

Bảo vệ mắt với băng giấy để ép mí mắt trên trong khi ngủ và tránh làm khô giác mạc.

Massage của cơ bắp suy yếu có thể giúp giảm triệu chứng.

Prednisone (60-80 mg/ngày trong 5 ngày, giảm dần trong 5 ngày tiếp theo) rút ngắn vừa phải thời gian phục hồi và cải thiện chức năng.

Hai thử nghiệm ngẫu nhiên lớn tìm thấy không có lợi thêm cho valacyclovir hoặc acyclovir so sánh với chỉ glucocorticoid.

Những rối loạn thần kinh mặt khác

Hội chứng Ramsay Hunt mắc phải do nhiễm herpes zoster ở hạch gối; phân biệt với liệt Bell bằng mụn phát ban ở hầu họng và ống tai ngoài, và thường tổn thương dây hần kinh VIII. U thần kinh thính giác thường chèn ép dây thần kinh VII. Nhồi máu, thoái hoá myelin của đa xơ cứng, và khối u là nguyên nhân cầu não thường gặp. Yếu mặt hai bên có thể gặp trong hội chứng Guillain-Barré, sarcoidosis, bệnh Lyme, và bệnh phong. Co giật nửa mặt thường xảy ra với liệt Bell, tổn thương kích thích (vd u thần kinh thính giác, phình động mạch nền, mạch máu lạ chèn ép thần kinh), hay do rối loạn vô căn. Chứng co thắt mi bao gồm tổn thương co thắt tái diễn của hai mi mắt, thường xảy ra ở người già và đôi khi liên quan với co giật mặt; có thể giảm một cách tự nhiên. Co giật nửa mặt hay co giật mi có thể điều trị bằng tiêm độc tố botulinum vào trong cơ vòng mi.

Bài viết cùng chuyên mục

Suy giáp: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Ở những vùng đủ iốt, bệnh tự miễn và nguyên nhân do thầy thuốc là những nguyên nhân phổ biến nhất của suy giáp.

Bệnh lý tĩnh mạch và bạch huyết

DVT có thể phòng bằng cách đi lại sớm sau phẫu thuật hoặc heparin khối lượng phân tử liều thấp trong quá trình nằm giường bệnh kéo dài.

Chất hóa học gây độc thần kinh

Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc thần kinh là giống nhau khi phơi nhiễm hai đường hơi và dung dịch. Biểu hiện đầu tiên bao gồm co đồng tử, nhìn mờ đau đầu, và tăng tiết dịch hầu họng.

Đánh giá ban đầu và bệnh nhân nhập viện

Bệnh nhân điều trị nội trú thường chỉ chú trọng vào chẩn đoán và điều trị những vấn đề nội khoa cấp tính. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân có nhiều vấn đề ảnh hưởng trên nhiều cơ quan.

Viêm cầu thận cấp: nguyên lý nội khoa

Hầu hết các thể của viêm cầu thận cấp đều được điều chỉnh bởi cơ chế miễn dịch dịch thể. Đặc điểm lâm sàng tùy thuộc vào tổn thương.

Sốc: nguyên lý nội khoa

Tiền căn các bệnh lý nền, gồm bệnh tim, bệnh mạc vành, suy tim, bệnh màng tim, Sốt gần đây hay viêm nhiễm dẫn đến nhiễm trùng huyết, tác dụng phụ của thuốc.

Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: nguyên lý nội khoa

Kê đơn kháng sinh không phù hợp trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên là một nguyên nhân hàng đầu của kháng kháng sinh của các tác nhân gây bệnh mắc phải trong cộng đồng như Streptococcus pneumoniae.

Viêm thực quản: nguyên lý nội khoa

Bệnh thường tự giới hạn ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường; lidocaine dạng thạch có thể làm giảm đau, ở những bệnh nhân bệnh kéo dài và suy giảm miễn dịch.

Xơ cứng toàn thân (SSC): nguyên lý chẩn đoán điều trị

Xơ cứng toàn thân là một rối loạn đa cơ quan đặc trưng bởi dày da và đặc biệt có sự tham gia của nhiều cơ quan nội tạng.

Khó tiêu: nguyên lý nội khoa

Sự hiện diện của các triệu chứng khó nuốt, nuốt đau, giảm cân không giải thích được, nôn ói tái phát dẫn đến mất nước, mất máu tiềm ẩn hoặc nhiều, hoặc có một khối u sờ được.

Bệnh hậu môn trực tràng và đại tràng

Các bất thường gồm thay đổi nhu động ruột lúc nghỉ và trong đáp ứng với stress thuốc cholinergic, cholecystokinin, thay đổi nhu động ruột non, tăng cảm giác tạng.

Khám tâm thần

Ký ức xa hơn được đánh giá bằng khả năng cung cấp bệnh sử hay hoạt động sống cá nhân của bệnh nhân theo trình tự thời gian.

Khám phản xạ: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Trong vài trường hợp, test này sẽ dạng các ngón còn lại và mức độ gấp thay đổi ở khớp cổ chân, kheo và háng.

Cường Aldosteron: cường năng tuyến thượng thận

Chẩn đoán được gợi ý khi tăng huyết áp kháng trị kết hợp với hạ kali máu kéo dài ở bệnh nhân không bị phù và không dùng lợi tiểu gây giảm kali.

Tiêu chảy: nguyên lý nội khoa

Các chất tan không được hấp thu làm tăng áp suất thẩm thấu trong lòng ruột, gây kéo nước tràn vào lòng ruột; thường giảm khi nhịn ăn; khoảng trống nồng độ osmol trong phân.

Rậm lông: rối loạn hệ sinh sản nữ giới

Cách tiếp cận khi xét nghiệm thừa androgen được mô tả trong hình. Buồng trứng đa nang là một nguyên nhân tương đối phổ biến gây rậm lông.

Các polyp đại tràng: nguyên lý nội khoa

Lan tỏa các polyp tuyến toàn bộ đại tràng lên tới vài nghìn polyp di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường cùng với sự mất đoạn trong gen đa polyp tuyến trên nhiễm sắc thể số 5

Rối loạn thông khí tăng giảm: nguyên lý nội khoa

Thông khí áp lực dương không xâm nhập trong khi ngủ, mang lại sự hỗ trợ về thông khí, và điều trị ngưng thở khi ngủ, do các bệnh thần kinh cơ.

Ung thư cổ tử cung: nguyên lý nội khoa

Phụ nữ nên bắt đầu sàng lọc khi họ bắt đầu quan hệ tình dục hoặc ở độ tuổi 20. Sau hai lần liên tiếp xét nghiệm Pap smears âm tính trong một năm, xét nghiệm nên được làm lại mỗi 3 năm.

Nhiễm toan chuyển hóa: nguyên lý nội khoa

Tiêu chảy là nguyên nhân thường gặp nhất, nhưng những bất thường từ đường tiêu hóa khác cũng tham gia với mất dịch chứa nhiều carbonhydrat có thể dẫn tới mất nhiều chất kiềm.

Hội chứng nhiễm trùng tại chỗ với tiến trình khởi phát nhanh chóng

Các dấu hiệu đặc trưng có thể bao gồm phá hủy van nhanh chóng, phù phổi, hạ huyết áp, áp xe cơ tim, bất thường dẫn truyền và rối loạn nhịp, các sùi dễ vỡ lớn.

Các khối u ruột non

Nội soi và sinh thiết hữu dụng nhất cho các khối u ở tá tràng và đoạn gần của hỗng tràng; phương pháp khác là chụp x quang có baryt là xét nghiệm chẩn đoán tốt nhất.

Tiếp cận bệnh nhân sốc: nguyên lý nội khoa

Mặc dù hạ huyết áp thì thường thấy được trong sốc, nhưng không có một ngưỡng huyết áp riêng nào để xác định được sốc. Sốc có thể là do giảm lưu lượng máu.

Tăng kali máu: nguyên lý nội khoa

Trong phần lớn các trường hợp, tăng Kali máu là do giảm bài tiết K+ ở thận. Tuy nhiên, tăng K+ nhập vào qua ăn uống có thể gây ảnh hưởng lớn đến những bệnh nhân dễ nhạy cảm.

U tuyến giáp: nguyên lý chẩn đoán điều trị

U tuyến giáp có thể là lành tính hoặc ác tính, Ung thư biểu mô tuyến giáp bao gồm ung thư tuyến giáp thể nhú, thể nang và không biệt hóa.