Giải phẫu tiền đình ốc tai

2015-04-01 07:37 AM

Hòm nhĩ có hình dáng như một thấu kính lõm hai mặt, trên rộng dưới hẹp, nằm theo mặt phẳng đứng dọc nhưng hơi nghiêng để thành ngoài nhìn ra ngoài xuống dưới và ra trước.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tai hay cơ quan tiền đình ốc tai là cơ quan đảm nhiệm việc tiếp nhận âm thanh và điều chỉnh thăng bằng cho cơ thể. Mỗi tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa, và  tai trong.

Tai ngoài

Tai ngoài gồm loa tai và ống tai ngoài. Có nhiệm vụ hội tụ, khuyếch đại sóng âm thanh và truyền vào tai giữa.

Thiết đồ đứng qua ống tai ngoài 

Hình. Thiết đồ đứng qua ống tai ngoài

1. Ống tai ngoài    2. Màng nhĩ

Loa tai

Nằm hai bên đầu vùng thái dương. Loa tai hình loa kèn, có 2 mặt là mặt ngoài và mặt trong với nhiều nếp lồi lõm.

Ống tai ngoài

Là một ống hơi dẹt trước sau, đi từ loa tai đến màng nhĩ. Từ ngoài vào trong theo một đường cong chữ S: đoạn ngoài cong lồi ra trước, đoạn trong cong lõm ra trước và xuống dưới. Do đó, để thấy rõ màng nhĩ phải kéo loa tai lên trên và ra sau.

Tai giữa

Tai giữa gồm hòm nhĩ, các xương con của tai và vòi tai.

Hòm nhĩ

Hòm nhĩ là một khoảng trống nằm trong xương thái dương, giữa ống tai ngoài và tai trong, chứa chuỗi xương con của tai. Phía sau thông với các xoang chũm, phía trước thông với tỵ hầu qua vòi tai nên không khí bên ngoài lưu thông được với tai giữa.

Hòm nhĩ có hình dáng như một thấu kính lõm hai mặt, trên rộng dưới hẹp, nằm theo mặt phẳng đứng dọc nhưng hơi nghiêng để thành ngoài nhìn ra ngoài xuống dưới và ra trước.

Thành ngoài của hòm nhĩ hay thành màng cấu tạo chủ yếu bởi màng nhĩ, ngăn cách giữa tai giữa và tai ngoài.

Màng nhĩ

Màng nhĩ ngăn cách ống tai ngoài và hòm nhĩ, có hình hơi tròn.

Màng nhĩ gồm 2 phần: phần trên nhỏ, mỏng, mềm gọi là phần chùng và phần dưới rộng, dày và chắc hơn gọi là phần căng.

Các xương con của tai

Gồm có xương búa, xương đe và xương bàn đạp khớp với nhau tạo thành một chuỗi xương con nối màng nhĩ với cửa sổ tiền đình.

Xương búa khớp với xương đe bởi khớp đe-búa. Xương đe khớp với xương bàn đạp bởi khớp đe-bàn đạp. Xương bàn đạp lắp vào cửa sổ tiền đình bằng khớp bán động nhĩ bàn đạp.

Các xương con của tai 

Hình. Các xương con của tai

1. Chỏm xương búa  2. Gân cơ căng màng nhĩ  3. Cán búa   4. Xương đe   5. Xương bàn đạp

Vòi tai

Vòi tai hay vòi nhĩ, đi từ lỗ nhĩ của vòi tai đến lỗ hầu vòi tai, theo hướng chếch xuống dưới vào trong và ra trước, dài khoảng 4 cm.

Vòi tai gồm 2 phần: phần xương ở 1/3 ngoài, phần sợi sụn ở 2/3 trong. Niêm mạc vòi tai liên tục với niêm mạc hầu và hòm nhĩ. Vì vòi tai thông với hầu nên nhiễm trùng đường hô hấp trên có thể gây viêm tai giữa.

Tai trong

Tai trong nằm trong phần đá xương thái dương. Gồm có mê đạo màng và mê đạo xương.

Mê đạo màng

Mê đạo màng là hệ thống các ống và các khoang nằm trong mê đạo xương, chứa nội dịch. Mê đạo màng gồm có: ống ốc tai, soan nang, cầu nang, các ống bán khuyên, ống soan cầu, ống nối và khoang ngoại dịch.               

Các ống bán khuyên: có 3 ống nằm là ống bán khuyên trước, ống bán khuyên sau và ống bán khuyên ngoài. Mỗi ống bán khuyên có một đầu phình to ra gọi là trụ màng bóng, đầu còn lại gọi là trụ màng đơn. Trụ màng đơn của ống bán khuyên trước và ống bán khuyên sau hợp lại tạo thành trụ màng chung, trước khi đổ vào soan nang.

Soan nang và cầu nang: soan nang và cầu nang nhận 5 lỗ của ba ống bán khuyên. Từ soan nang cho ra ống nội dịch. Soan nang và cầu nang có đầu mút của các sợi thần kinh tiền đình.

Mê đạo màng chứa đầy dịch lỏng gọi là nội dịch, có lẽ được tiết ra từ  dây chằng xoắn. Thành phần của nội dịch như dịch nội bào, nhưng nhiều kali và ít protein hơn. Mê đạo màng được bao bọc bằng khoang ngoại dịch chứa ngoại dịch.

Ống ốc tai: là một ống xoắn hai vòng rưỡi, nằm trong ốc tai của mê đạo xương, trên thiết đồ ngang ống ốc tai hình tam giác với ba thành là:

Thành dưới là mảnh nền.

Thành ngoài sát thành ngoài ốc tai.

Thành trên hay thành tiền đình ốc tai.

 Thiết đồ ngang ống ốc tai

Hình. Thiết đồ ngang ống ốc tai

1. Ống ốc tai   2. Thang tiền đình   3. Thang nhĩ

Mê đạo xương

Mê đạo xương là những hốc xương trong phần đá xương thái dương, chứa đựng mê đạo màng và ngoại dịch. Mê đạo xương có hai phần:

Tiền đình gồm tiền đình thật sự và các ống bán khuyên xương.

Tiền đình: gồm có các ống bán khuyên xương chứa các ống bán khuyên màng và cùng tên với các ống bán khuyên màng và tiền đình thật sự chứa soan nang và cầu nang

Ốc tai: chứa ống ốc tai, và tương tự ống ốc tai, nó có hình con ốc xoắn 2 vòng rưỡi. Ðỉnh ốc tai hướng ra trước ngoài, nền ốc tai hướng vào trong sau, ngay đầu ngoài của ống tai trong. Từ đó có thần kinh ốc tai đi ra. Một phần nền của ốc tai tạo nên ụ nhô của hòm nhĩ.

Mê đạo xương 

Hình. Mê đạo xương

1. Trụ xương chung    2. Ống bán khuyên    3. Ốc tai

Ốc tai có một trụ và từ trụ này có mảnh xoắn xương nhô dính với ống ốc tai. Như vậy, mảnh xoắn xương và ống ốc tai ngăn ốc tai ra làm hai phần: phần trên là thang tiền đình và phần dưới là thang nhĩ. Hai thang này chỉ thông nhau ở đỉnh ốc tai, nơi đó gọi là khe xoắn ốc.

Mê đạo màng không lấp đầy mê đạo xương mà có một khoang trống giữa chúng gọi là khoang ngoại dịch và có chứa một chất dịch gọi là ngoại dịch. Thành phần của ngoại dịch như nước não tuỷ.

Bài viết cùng chuyên mục

Giải phẫu đại cương hệ tiết niệu sinh sản

Hai hệ tiết niệu và sinh sản có liên quan rất mật thiết với nhau về phương diện phôi thai cũng như giải phẫu học, Đặc biệt là hệ sinh sản luôn có sự tương đồng cũng như khác nhau giữa hai giới về các cơ quan và bộ phận của hệ này

Hệ thống cơ: giải phẫu và chức năng

Chuyển động cơ xảy ra khi tín hiệu thần kinh tạo ra những thay đổi điện trong tế bào cơ, canxi được giải phóng vào các tế bào và mang lại sự co giật cơ ngắn

Giải phẫu cơ thân mình

Thành bụng trước bên gồm ba cơ ở phía bên xếp thành ba lớp từ nông đến sâu: cơ chéo bụng ngoài, cơ chéo bụng trong.

Giải phẫu dạ dày

Phần dạ dày dưới đáy vị, có giới hạn dưới là mặt phẳng xiên đi qua khuyết góc, Phần thân vị chứa các tuyến tiết ra Axít clorohydric HCl và Pepsinogene.

Giải phẫu xương lồng ngực

Đầu trước của thân xương sườn nối với các sụn sườn ngoại trừ xương sườn 11 và 12 tự do nên hai xương sườn này được gọi là xương sườn cụt.

Giải phẫu cơ chi dưới

Ðùi được giới hạn phía trên bởi nếp lằn bẹn ở trước và lớp lằn mông ở sau, Phía dưới bởi một đường ngang phía trên nền xương bánh chè 3  khoát ngón tay.

Giải phẫu mũi

Niêm mạc có nhiều mạch máu, tuyến niêm mạc và tổ chức bạch huyết có chức năng sưởi ấm, làm ẩm không khí, lọc bớt bụi và sát trùng không khí trước khi vào phổi

Giải phẫu tủy gai

Càng về sau, do tốc độ phát triển của cột sống nhanh hơn so với tuỷ gai, do đó tuỷ gai tận cùng ở vị trí bờ dưới đốt sống thắt lưng 1 hoặc bờ trên đốt sống thắt lưng 2

Atlas giải phẫu hốc mũi (Cavum nasi)

Các xương cuốn mũi hoặc xương xoăn. Thành bên ngoài của các Hốc mũi không phẳng mà gồ ghề do có các xương cuốn. Thực ra đây chỉ là các lá xương

Hệ thống tuần hoàn: giải phẫu và chức năng

Hệ thống tuần hoàn hoạt động nhờ áp lực liên tục từ tim và van, áp lực này đảm bảo rằng các tĩnh mạch mang máu đến tim và các động mạch vận chuyển nó ra

Giải phẫu tá tràng và tụy

Tá tràng đưọc cấu tạo gồm 5 lớp như các phần khác của ruột non là lớp niêm mạc tiết ra nhiều men tiêu hóa để tiêu hóa thức ăn, đặc biệt ở thành trong của phần xuống

Đại cương về giải phẫu xương khớp

Xương đơn là xương mỗi ngừoi có một xương và các xương này ở trên trục của cơ thể, hai phần phải trái của xương đối xứng qua trục của nó cũng như trục của cơ thể.

Hệ sinh sản nữ: giải phẫu và chức năng

Phụ nữ được sinh ra với một số lượng lớn tế bào trứng, mãi đến sau khi bắt đầu dậy thì, những tế bào này đã đủ trưởng thành để duy trì sự sống

Giải phẫu tim

Bên trái rãnh gian nhĩ là tâm nhĩ trái, có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào, Tâm nhĩ trái liên quan với thực quản ở phía sau, nên khi tâm nhĩ trái lớn sẽ đè vào thực quản.

Giải phẫu xương khớp đầu mặt

Hầu hết các xương đầu mặt được cấu tạo gồm hai bản xương đặc, bản trong và bản ngoài, hai bản ngăn cách ở giữa bằng một lớp xương xốp.

Giải phẫu hầu

Thanh hầu nằm sau thanh quản, từ bờ trên sụn nắp thanh môn đến bờ dưới sụn nhẫn, tương ứng từ đốt sống cổ thứ tư đến bờ dưới đốt sống cổ thứ sáu.

Atlas giải phẫu vùng mũi, các cơ, mạch máu và dây thần kinh

Mũi có bề mặt bên ngoài phủ bởi da, và bề mặt bên trong phủ bởi da-niêm mạc liên tiếp với niêm mạc hô hấp của các hốc mũi. Nằm trong bề dày, giữa hai bề mặt bên ngài

Khí quản: giải phẫu và chức năng

Khí quản kéo dài từ cổ và chia thành hai phế quản chính phân chia đến phổi, chúng giống như thân cây phế quản.

Giải phẫu cột sống

Nhìn trước sau cột sống trông thẳng đứng, nhưng nhìn nghiêng, cột sống có 4 đoạn cong lồi lõm xen kẽ nhau. đoạn cổ và đoạn thắt lưng cong lồi ra trước

Giải phẫu thực quản

Về phương diện giải phẫu học, thực quản được chia làm 3 đoạn: đoạn cổ dài khoảng 3cm; đoạn ngực dài khoảng 20 cm và đoạn bụng dài khoảng 2 cm.

Giải phẫu niệu quản

Có 3 chổ hẹp là ở khúc nối bể thận niệu quản, chổ bắt chéo với động mạch chậu và đoạn nội thành bàng quang, Niệu quản được chia ra làm 2 đoạn

Giải phẫu các đôi dây thần kinh sọ

Trong số các dây thần kinh sọ thì dây thần kinh khứu giác (I) và dây thần kinh thị giác, thật ra là phần phát triển dài ra của não bộ, nên khác với các dây thần kinh cảm giác

Giải phẫu xương khớp chi trên

Xương vai là một xương dẹt hình tam giác, gồm hai mặt, nằm phía sau bên của phần trên lồng ngực, Xương có hai mặt, ba bờ và ba góc.

Atlas giải phẫu những xoang cạnh mũi (Sinus paranasales)

Xoang hàm là một hốc nằm trong thân của xương hàm trên, những thành của xoang có thể chỉ là những tấm xương mỏng

Giải phẫu gian não

Gian não là phần não phát sinh từ não trước, bị vùi vào giữa hai bán cầu đại não. Gian não bao gồm đồi não và vùng hạ đồi, quây quanh não thất III